Thứ Năm, ngày 21 tháng 8 năm 2014

* Thơ CTC : Bị té xe ở dốc cầu mới


Cao Thoại Châu
BỊ TÉ XE Ở DỐC CẦU MỚI
                                           
                                                  Té xong thì lại đứng lên
                                            Trăm năm dễ được mấy lần té xe?


Tôi buồn thế mà em không biết 
Gió đi qua gió chẳng nói gì
Cây đứng như lá vừa rụng hết
Tôi cũng ngó mình hết sức ưu tư

Thả rong xe xuống một dốc cầu
Đối mặt những khuôn hình chưa quen biết
Cảm giác như nơi nào cũng chật
Không nơi êm đềm cho bánh xe lăn

Nơi nào cho tôi giây phút yên bình
Bao nhiêu người biết bình yên cưng quý
Bỗng nhiên tôi nắm chặt tay mình
Sợ buông ra hồn bay đi mất

Qua cầu dĩ nhiên nhìn xuống dưới
Những bọt bèo tụ tập với rong rêu
Có một ít hoa bèo tim tím
Tim tím đi như lạc trong chiều

Và hồn tôi là ngôi đền trống
Đã bao lâu không tiếng kinh cầu
Thần hết linh cũng tàn nhang khói
Bầy sẻ buồn thôi ríu rít trên cao

Chiều hôm nay như chiều tận thế
Ai cũng mong sớm trở về nhà
Rất vội vã không lời giải thích
Mặc tôi một mình đứng đó bơ vơ
20-8-2014

Thứ Tư, ngày 20 tháng 8 năm 2014

* TẢN MẠN :"Văn chương, văn hóa"...giới thiệu




VĂN HÓA... GIỚI THIỆU

       Dễ tính đến như tôi chắc không ai dễ hơn được nữa. Thế vậy mà nhiều lúc nghe hay đọc những lời người ta giới thiệu nhau hay tự giới thiệu, tôi cũng phải bực mình lên, có khi còn cáu gắt dù ngoài mình ra chẳng có ai ở cạnh.
      Giới thiệu ai là một phép lịch sự, một nhu cầu và theo tôi, còn là một nghệ thuật, và cả lễ phép nữa.
      Để tự giới thiệu mình, người ta dùng danh thiếp trên đó in tên, nghề nghiệp cốt cho người mới gặp lần đầu biết mình là ai khiến cho cuộc trao đổi trở nên dễ dàng hơn, thân tình hơn và trong giao dịch thì đúng đối tượng. Tuy vậy, khá nhiều tấm danh thiếp in đặc nghẹt chữ nhìn là thấy có một sự phô trương của người ít danh phận. Trong cuốn “Chơi chữ”, nhà văn lớp trước có ghi lại tấm mấy tấm danh thiếp “Trần Văn Có/ Tức Huyện Có/ Láng giềng Quận công Hoàng Cao Khải”. “Lý Văn Giàu/ Tức Huyện Giàu/ được tư thưởng đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh do văn thư số 81 ngày 15-8-1927”. Nhà văn tiền bối còn giới thiệu thêm tấm danh thiếp…trời sầu đất thảm “Phan Văn Sáu /Tốt nghiệp trường Mẫu giáo”!
       Đó là phép “lịch sự” ngày xưa, còn bây giờ chắc có thể có một tấm danh thiếp như vầy “Hổ Thị Lốn/ tức Chim Sơn Ca chân dài /3 vòng đạt chuẩn châu Phi /đảm bảo không dao kéo”. Dễ tính như tôi cũng có thể nổi cơn gió bụi nếu nhận một danh thiếp như vậy. May mà cái danh thiếp này là danh thiếp ảo thôi.
      Bây giờ nói về những lần tôi nghe giới thiệu người khác. Có các loại nhân vật sau đây luôn được giới thiệu trang trọng: Quan chức - Đại gia - Người nổi tiếng - Nghệ sĩ…Lời giới thiệu các quan chức thường không có cánh rồng bay phượng múa nhưng nhất thiết phải đủ hết mọi người, sót tên, thiếu chức tước hay sai là…chết! Hồi còn làm cho một tờ báo của Bộ nọ, tôi và anh Sếp trực tiếp suýt chết khi báo ra bông lần cuối cht vô tình phát hiện “Phó Thủ tướng…” trong khi bài viết về người đứng đầu chính phủ. Đương nhiên do đánh máy sai nhưng đương nhiên tôi và anh Sếp sẽ lãnh chưa biết lãnh gì nhưng “búa” là không tránh khỏi. Hú vía!
      Hàng ngày coi TV thấy vô số những lời giới thiệu danh phận những người cùng làm nên một cuốn phim. Đạo diễn : Văn Kèo; Kịch bản : Văn Kéo; Ánh sáng: Văn Kẹo; Khói lửa : Văn Kẹ…nhưng lại là Nhạc sĩ : Văn Kỵ!! Hóa ra nhạc sĩ cũng là đồng loại với ánh sáng, âm thanh, khói lửa dù chữ “sĩ” lù lù ra đó!
     Rất nhiều lần trên bài báo giới thiệu nhiều nhân vật cùng có mặt. Giáo sư Tiến sĩ Đào Văn Đường; Đồng chí Chì Văn Đống; Phạm Chân Trắng. Thì ra cái anh Trắng này là nhân vật tầm thường đến nỗi chẳng ai thèm ghép cho một chữ “Ông”.
     Một vài lần ở Hội VHNT tỉnh tôi có in kỷ yếu và tôi cũng có tên trong đó. Sách viết “Nhà văn Phước Như Đông Hải, Tác giả CTC…”. Họ viết đúng vì “cái gọi là CTC” không có phải hội viên Hội Nhà văn VN! Sáng nay, vào blog của một “nhà văn” (hay tác giả?) thấy có một ấm ảnh hai người và chú thích ảnh ghi rằng “Họa sĩ ĐC và VCC”. ĐC quá nổi tiếng chả cần thêm hai chữ họa sĩ nhưng cứ ghi thì đúng phép lịch sự nhưng còn anh VCC là ai, không thấy ghi gì, cứ trỗng trỗng như vậy, nghe mới xách mé, chướng làm sao?
       Tự giới thiệu hay giới thiệu người khác mà rườm rà dây mơ rễ má, phô trương kiểu cáo mượn râu hùm hay trân trọng người này, xách mé người kế bên...đều là thất lễ, mà lễ là cái văn hóa tối thiu của một con người.


* Thơ CTC: Sỏi cát ra hoa trên đất đá hồn mình


Cao Thoại Châu
SỎI CÁT RA HOA TRÊN ĐẤT ĐÁ HỒN MÌNH

Đất đi đâu trời cũng theo cùng
Chẳng rời nhau như chàng với thiếp
Mà sao em xa anh
Để đêm trăng cá trồi lên đớp bóng


Núi và biển họp thành Đất Nước
Không ở đâu đất nước hóa tên riêng
Bàn chân đi từ Bắc xuôi Nam
Đất chật hẹp trời dành cho biển rộng

Mỗi trái tim có mang tiếng sóng
Thịt da người ướt đẫm mồ hôi
Manh áo mỏng dùng thay áo ấm
Ấp ủ nhau cái lạnh đông dài

Huyền thoại đất gửi tình cho nước
Tua tủa cây lên như cột chống trời
Hai cánh tay tôi đỡ lấy tôi
Trái tim nhỏ có khi nào nặng thế

Những bài thơ viết trên đất nước mình
Lấy chữ của nước mình mà viết
Chữ là rễ cây bám sâu vào đất
Và chữ tìm trên những mộ bia

Vẫn một mình thao thức từng đêm
Trên chiếc giường rộng như trái đất
Mỗi bài thơ một lần gieo hạt
Sỏi cát ra hoa trên đất đá hồn mình
20-8-2014


Thứ Ba, ngày 19 tháng 8 năm 2014

* TẢN MẠN : Một đời hai lần coi phim Nhật



MỘT ĐỜI 
HAI LẦN COI PHIM NHẬT 

Trong suốt gần 20 năm sau 1975, thú thật không ngượng là tôi không coi một bộ phim nào. Có lý do, thời gian ấy chỉ cần coi một phân đoạn là đoán ra được kết của cuốn phim. Hơn nữa, hầu như phim không có bi kịch và nhất là “phe ta” bao giờ cũng là những gì tốt đẹp nhất và…xa vời nhất! Để thế vào đó, lúc ấy tôi lao vào đọc sách, những cuốn sách gọi là kinh điển, vừa để tăng kiến thức cũng có, vừa để giải một tò mò rằng vì sao những người chống chủ nghĩa tư bản đế quốc đã thắng, ít ra ở điểm nóng VN. Và kết quả thật bổ ích!
     Thời gian ấy cũng là lúc tôi hay nhớ lại những bộ phim một thời lay động hồn tôi, Rashomon của Nhật mà tôi được coi vào những năm 60.
    Tại ngôi đền đổ nát Rashomon dưới trời mưa dữ dội, một người tiều phu và một vị sư lần lượt kể lại vụ án tàn bạo mà hai người được chứng kiến và làm nhân chứng...
   Theo lời người tiều phu, trong lúc kiểm củi ông ta tình cờ phát hiện được thi thể một samurai bị giết chết bằng kiếm, bên cạnh là vài dấu vết của một phụ nữ, người tiều phu quá hoảng sợ trước khung cảnh tội ác và lập tức đi báo quan về vụ án... Còn theo nhà sư thì ông ta đã thấy samurai và người phụ nữ đi cùng nhau vào ngày xảy ra vụ án mạng...Nếu tôi nhớ không lầm thì trước phiên tòa xử vụ án, tên cướp khai chính hắn đã lừa người samurai vào rừng rồi trói lại hòng cưỡng đoạt vợ ông ta. Tajomaru thừa nhận chính hắn sau đó đã giết viên samurai nhưng là theo lời đề nghị của người phụ nữ…
    Trái ngược hoàn toàn với lời kể của Tajomaru, vợ người samurai lại thừa nhận rằng chính cô là người đã giết chồng vì quá sợ hãi trước ánh mắt lạnh lùng của chồng nhìn mình sau vụ cưỡng bức. Bản thân nạn nhân tức người samurai cũng hiện hồn qua bà đồng cốt để nói rằng chính ông ta đã tự tử vì quá đau khổ sau khi nghe thấy vợ mình gợi ý cho Tajomaru giết chồng để đi theo gã kẻ cướp.
    Cuối cùng, người tiều phu thừa nhận rằng mình đã nói dối vì không muốn dính dáng đến vụ án. Thực ra ông ta đã chứng kiến vụ án ngay từ đầu, theo đó sau vụ cưỡng bức người phụ nữ bị cả Tajomaru và viên samurai ghét bỏ, vì quá tức giận cô quay lại chửi mắng cả hai người và cho rằng cả hai đều không đáng mặt làm đàn ông. Vụ án kết thúc bằng cuộc đấu kiếm giữa người samurai và Tajomaru tuy nhiên Tajomaru giết được người samurai chủ yếu là nhờ may mắn chứ không phải vì thực lực của gã.
     Cảm tưởng của tôi lúc ấy là : Là nước công nghiệp nhưng điện ảnh Nhật vẫn hết sức nền nã kiểu Nhật! Nước Nhật hiện đại đang tìm về những vấn đề muôn thuở theo cách nghĩ người Nhật. Cặp vợ chồng trẻ đi qua một khu rừng, một đám thảo khấu, một cái chết cùa người chồng, sự rung động của người vợ trước vẻ hiên ngang của tên cướp. Và 4 người 4 cách tường thuật vụ việc khác nhau. Đâu là sự thật? Phải chăng cái khó nhất và cũng là cơ bản nhất của con người là đối diện, tiếp nhận và xử lý sự thật? Khi ấy tôi mới ngoài 20 và không biết có phải vì còn quá trẻ mà tôi nói với một người bạn rằng nước Nhật lãnh 2 trái bom nguyên tử để có được Rashomon cũng xứng đáng! Cuốn phim gây hoang mang cho tuổi trẻ tôi không ít về lòng tin và lẽ sống ở đời.
      Nhiều năm sau, khoảng 1995 là lúc tôi coi Oshin của điện ảnh của con cháu Minh Trị Thiên hoàng.
     Năm 1907, Oshin khi đó mới 7 tuổi đã bị cha cho đi ở cho một nhà ở khá xa để gia đình bớt khó khăn. Mặc dù bị nhà chủ hành hạ cả về thể chất lẫn tinh thần, nhưng Oshin vẫn ráng sức chịu đựng, tất cả đều nghĩ về gia đình mình, mong muốn cha mẹ và các em đỡ khổ. Thế nhưng, đến một ngày bị nhà chủ vu cho ăn cắp tiền của họ thì Oshin không chịu đựng được nữa, trốn về với mẹ. Về nhà Oshin, một lần nữa, lại bị cho đi ở, lần này là đến vùng khá xa cũng với nghề giữ trẻ. Ở đây, cô kết bạn với người con gái của nhà chủ và sống ở đó cho đến 16 tuổi. Thế nhưng, đến khi được trở về nhà, cha của Oshin lại muốn cô ra ngoài đi làm, lần này là làm việc ở một quán Bar. Biết rằng, quán Bar chỉ là vỏ bọc cho một động mại dâm, Oshin đã bỏ lên Tokyo, theo chị gái mình làm nghề làm đầu.
      Tại đây, Oshin gặp và kết hôn với chồng mình sau này. Năm 1923, một trận động đất lớn ở Tokyo đã phá hủy toàn bộ nhà và cửa hàng của hai vợ chồng Oshin. Trắng tay nên hai người quay về ở bên nhà chồng. Do cuộc hôn nhân của hai người không được mẹ chồng chấp nhận nên khi về sống với nhà chồng, Oshin phải chịu rất nhiều gian nan, khổ cực. Cô thậm chí đã bị gãy tay vì phải làm việc đồng áng nặng nhọc dài ngày. Cuối cùng Oshin quyết định rời bỏ nhà chồng để xây dựng lại cuộc đời mình. Cô mang theo đứa con mới sinh mở một quán ăn nhỏ, làm bánh, bán cá... Sự nghiệp của cô dần trở nên khá hơn, nuôi dạy con cái trưởng thành làm ăn phát đạt cho đến khi câu chuyện kết thúc vào năm 1983.
       Oshin, một phụ nữ huyền thoại, cô đã thể hiện như là một biểu tượng của sự kiên nhẫn, nghị lực và không bao giờ chịu khuất phục kể cả trong những tình huống khó khăn nhất. Trong tiếng Nhật, từ sau cuốn phim này "Oshin Diet" được dùng để chỉ việc người dân Nhật Bản vượt qua nền kinh tế bong bóng và ăn uống khổ cực với củ cải  gạo vào năm 1980. Một con tàu nổi tiếng đã được đặt tên là "Oshin Line". Còn tại VN, sau khi cuốn phim được chiếu, Oshin thành danh từ chỉ mẫu người phụ nữ điển hình khởi nghiêp từ công việc đi làm việc nhà cho người ta.
    Cuốn phim ra đời năm 1950 chỉ mới 5 năm sau ngày Nhật thảm bại với những tan hoang, nhục nhã nhưng tại nước này không có một tâm trạng hậu chiến với sự sụp đổ về tinh thần như một số nước châu Âu thời đó. Oshin đứng lên, nước Nhật đứng lên, kiên nhẫn làm lại từ đầu và Oshin đã thành công! Với tôi, những nhân vật thủ vai Oshin khi nhỏ, khi trẻ và lúc về già đều là những diễn viên đẹp một vẻ đẹp rất phù hợp với nhân vật và rất đáng say mê.
    Hai bộ phim Nhật hai nội dung, đặt ra hai vấn đề rất khác nhau một có tính siêu hình và một mang tính thực tiễn của cuộc sống đã giải thích thêm vào việc vì sao nước này văn minh, giàu mạnh và vì sao tôi ngưỡng mộ văn hóa của dân tộc có truyền thống đáng trọng này

Chủ Nhật, ngày 17 tháng 8 năm 2014

* TẢN MẠN : Khi đàn bà "ở trên cột điện cao thế"



KHI ĐÀN BÀ "Ở TRÊN CỘT ĐIỆN CAO THẾ"

Từ ngày rời làng quê nhập vào thành thị và cũng chính là khi nhập vào cuộc sống rộng lớn, phức tạp, xô bồ, có sự phân công trong nhiều lãnh vực, tôi không còn được thấy cái chuồng gà nữa. Ngày tôi còn bé, trong nhà có một chuồng gà làm bằng tre cứng cáp và cao hơn mặt đất vài tấc, chắc là vì tránh ẩm ướt dễ bệnh cho gà. Cứ mỗi sáng thế nào những con gà trống cũng nhảy xuống trước, vỗ đôi cánh gáy lên một hồi lanh lảnh để báo thức và dường như báo yên bình cho lũ gà mái lục tục nhảy xuống. Và rồi những con gà trống làm nhiệm vụ giống đực vào giờ khắc tinh khôi ấy của đất trời.
      Lớn lên, vào cuộc sống tôi mất dần đi tiếng báo yên bình đó bởi người đô thị ăn thịt gà mua ngoài chợ về không mấy ai còn chuồng gà trong sân nữa, thảng hoặc nhà nào có nuôi thì bây giờ là gà công nghiệp chúng không còn biết gáy. Thế nhưng, có lẽ là trong sâu thẳm hồn tôi vẫn cứ tồn tại ý nghĩ rằng “Con gà trống gáy báo rạng đông yên bình cho con gà mái đẻ trứng ấp con”, chúng không chỉ là thực phẩm mà là một phần làm thêm ý vị cho cuộc sống con người.
      Nghĩ đến gà mái khi nào tôi cũng nghĩ đến những người đàn bà, bởi bài học về tình mẫu tử in sâu vào tế bào là hình ảnh gà mái ấp trứng, dẫn con đi ăn, xòe cánh che con khi mưa bão hay bị tấn công. Nhắc đến tấn công là nhắc thời loạn, đàn ông ra trận nhiều người không trở về. Thời bình đàn ông khai hoang, leo cột điện cao thế, lái xe container, cầm bút…phải chăng là để nuôi cái thanh bình cho đàn bà điểm trang và sinh con khi có thể?
      Ấy vậy mà nhiều người nữ lại làm thơ - một công việc tưởng chơi mà thực ra tiềm ẩn hiểm nguy - gợi cho tôi cảm giác họ cũng leo cột điện cao thế giữa địa hình núi rừng nhấp nhô trập trùng! Có điều, leo cột điện để mưu sinh thì bất hạnh lắm đàn bà mới phải làm, còn làm thơ là phần thưởng trời cho (hay trời hành), nó là tự nguyện và đàn bà “leo” có khi cao và giỏi hơn nhiều!
    “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn / Trơ cái hồng nhan với nước non”. Thời bây giờ không còn tiếng trống sang canh gõ rời rạc, khô khốc trong im ắng nên khó mà cảm tâm trạng của bà Hồ Xuân Hương. Không chỉ là thân phận “gà mái kiêm gà trống” mà là thân phận của con người giữa bao la rộng lớn và vô tình của cuộc đởi!
      Đàn ông lái xe container là hình ảnh bình thường, không phải vì họ có sức vóc hơn mà chỉ đơn giản vì đó là đàn ông. Nhưng ngồi sau cái “vô lăng” ấy có khi cũng là một phụ nữ. Người phụ nữ Thăng Long một chiều nọ thấy mình đang ở một đèo cao trên đường thiên lý vào kinh đô hẳn là cảm được cái nặng nề của cái “vô lăng” ấy. “Dừng chân đứng lại: trời, non, nước / Một mảnh tình riêng ta với ta” . Trời non nước là trời non nước của ai? Của những mảnh đời nhỏ nhoi lác đác, rời rạc dưới chân núi, hay của chính mình, thưa Bà huyện Thanh Quan?
      Trước bà không biết bao lâu, trong một buổi đi thanh minh về, có một người nữ cũng làm thơ. “Sè sè nấm đất bên đường/ Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” là nấm một của một ca nữ tài sắc một thời nằm chết vô danh. Kiều động tâm tràn đầy bi thương đã “Rút trâm sẵn dắt mái đầu / Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần”. Hành vi làm thơ – đàn bà “leo cột điện” - được ghi lại như vậy nhưng còn nguyên tác bài tứ tuyệt đó thì đó là bài thơ ảo, chẳng ai và chẳng bao giờ đọc được! Cái mà tôi nhớ là cùng đi với nhau, cùng thấy mộ Đạm Tiên nhưng Thúy Vân và Vương Quan không làm thơ, chỉ có Kiều!
            Dường như thơ của người nữ nào cũng là thơ buồn?
         Tại tâm hồn mong manh? Tại mọi thứ trời sinh giống cái đều bị động? Tại nhan sắc thường đi đôi với khổ lụy? Và tại nhạy cảm nhận ra những cái mà kẻ “cầm vô lăng xe container” chậm hoặc không nhận ra? 
               Tui không buồn răng mắt mờ lệ ứa!
               Bởi vì răng tui có hiểu chi mô 
               Vì lòng tôi là mặt nước sông hồ 
               Chi lạ rứa bên ni bờ tôi khóc 
     Đó là thơ Nguyễn Thị Hoàng viết năm 1957 khi bà mới ở tuổi hai mươi. Người cùng thời với bà là Nhã Ca thì:
               Đời sống ôi buồn như cỏ khô
               Này anh em cũng tợ sương mù
               Khi về tay nhỏ che trời rét
               Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ
      Hai thứ buồn nữ tính của hai con người danh phận khác nhau, một còn ở bờ bên này, một dường như đã xuống dòng! Gần với đây hơn, Đinh Thị Thu Vân, người lặng thinh nắm bàn tay lại nhưng khi cần thì bất ngờ bung ra đầy nội lực, hết mình :
               Câu thơ nào em viết cho anh
               Xin vĩnh viễn đi vào kỷ niệm
               Dẫu mai này lòng không còn nguyên vẹn
               Những câu thơ em viết mất linh hồn 
     Phần mình, tôi thích thơ đàn bà hơn có lẽ tại nó dịu dàng và day dứt, thấm thía hơn, và nói một cách có hình ảnh thì đàn bà “leo cột điện cao thế” là một hình ảnh phơi phới cho tôi nhiều an ủi, vỗ về hơn, đèn vì thế cũng sáng hơn!

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 8 năm 2014

* TẢN MẠN : Nghĩ từ nhân vật "Bà Phó Đoan"




NGHĨ TỪ NHÂN VẬT
“BÀ PHÓ ĐOAN

Tôi nghĩ là có một khoảng cách giữa một cuốn phim điện ảnh với một tác phẩm văn học mà nó lấy làm hồn cốt, đến nhũng chữ nghĩa im lìm của sách so với hình ảnh, động tác và âm thanh sống động, thứ có thứ không có trong hai tác phẩm này. Từ đó đành phải chấp nhận không thể không có một cuộc thay đổi hồn cốt của “Bà Phó Đoan” con ruột của nhà văn với “Bà Phó Đoan” bằng xương bằng thịt con ruột của người làm điện ảnh, nhất là phim làm trong thế kỷ 21 này.
       Trước hết là cái tên nhân vật. Không có tên riêng tức tên cúng cơm hay một tên tự chọn, mà là “bà” tức một phụ nữ có chồng ghép với chức danh công chức “Phó Đoan” của người đàn ông ấy, cũng lại không được giới thiệu tên riêng. Tôi nghĩ nhà văn có thể có chủ ý, ít ra là về kỹ thuật mô tả nhân vật. Một phụ nữ ngay khi chồng còn đến khi chồng chết vẫn là một đàn bà cắm lên đầu ông ta không biết bao nhiêu cái sừng nếu hiểu một chút lẳng lơ, trơ trẽn “rò rỉ” ra ngoài cũng là một cái sừng…Khi ông Phó qua đời, dường như cách gọi cũ lại là một tấm bình phong cho người đàn bà này, bình phong không phải để che đậy một sự lén lút nào, mà là một món trang sức cho sự trơ trẽn thành có ấn tượng hơn! Thời ấy và trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, những nhân vật đàn ông hầu như người nào cũng nhạt nhẽo, vô vị mang tính “giống cái” nhiều hơn có thể. Tất cả dồn lên vai một người đàn bà trong phong trào “cải cách”, tác phẩm có tính trào lộng chăng?
       Thường thì khi một góa phụ muốn sống một cách tự do (kể cả phóng túng, và đó là quyền chính đáng) thì người ấy sẽ trở lại với tên cúng cơm. Ở đây, tôi nghĩ nhà văn muốn cực tả một tính cách trơ trẽn cho nên ông cứ để cho nhân vật nữ mang tên ấy đóng vai “quân cờ thí”, như vậy nhà văn mới đưa ra ánh sáng được những “nhà cải cách” gồm những gã đàn ông vô nhân cách như Văn Minh, Trực Ngôn, hai tên phú lít (Mille 2, Mille 3) và tất nhiên là Xuân Tóc Đỏ, và hình như cả “Cụ Cố Hồng”, tác giả câu nói cửa miệng "Biết rồi, khổ lắm nói mãi!" mà người nghe chẳng ai thấy thương, chỉ muốn vả vào miệng ông ta một cái!
        Tất cả cái đám “cải cách” đó nói là bài trừ hủ tục nhưng thật ra là quay về với bản năng, cặn bã của văn minh phương Tây thời đó. Xuân Tóc Dỏ là tên vô giáo dục làm gì có văn hóa để từ bỏ về với bản năng? Nhưng cái lớp có học bên trên Xuân thì đúng là có "sự quay về" bằng chỉ hai từ "cải cách"!
        Phá bỏ hủ tục bằng ngôn ngữ nửa Ta nửa Tây, bằng ăn mặc khêu gợi, những cái liếc cháy nhà cháy cửa và như “Bà Phó Đoan” học đánh quần vợt té một cái làm điệu và bắt Xuân Tóc Đỏ bóp đùi cho kiểu “chỗ này này”! Thế là tiến lên văn minh hay đi lùi về cái “con” nguyên vẹn không một chút thăng hoa nhân văn? Lũ lố lăng, bát nháo, bản năng ấy cảnh báo văn hóa Á Đông bị sụp một mảng như một đoạn đê bị bể và lũ tràn vào đem cả rác rến vào như mọi người đã rõ.
       Nhà văn từ giã chúng ta trên 70 năm rồi, xã hội đã khác thời của ông nhưng lời cảnh báo của ông dường như còn đó, nghe rõ hơn, trông tỏ hơn…Nếu mỗi nhân vật có một linh hồn thì người đáng tội nghiệp trong đám ấy nên là “Bà Phó Đoan” mà tôi mong tìm được tên thực của bà! Người đàn bà ấy là đỉnh điểm của trớ trêu "hai mặt" bị nhà văn hy sinh : hành vi đĩ tính lại được vinh danh tiết hạnh khả phong. Còn cái đau nào hơn thế khi phải sống chung với loại người hai mặt tốt xấu ngang bằng với nhau ? Và có cái nhúm thượng lưu của xã hội nào dốt nát, đốn mạt hơn thế?



Thứ Sáu, ngày 15 tháng 8 năm 2014

* Thơ CTC : Tuyên ngôn về rượu


Cao Thoại Châu
TUYÊN NGÔN VỀ RƯỢU


Không uống rượu thấy mình hèn thật
Chẳng còn đâu chí khí anh hùng
Trải chinh chiến bao năm không sợ
Mà bây giờ sợ chút hơi men

Súng nổ ầm ầm lưỡi lê nhọn hoắt
Kinh hoàng hơn bàn nhậu hôm nay
Rượu đâu có sức gây thương tích
Không kích động ai thù hận con người

Từ chối rượu là so đo từng chút
Thủ lấy từng tí sống mong manh
Kẻ khí phách tung hê tất cả
Thành sầu mang mang chi sá một thân mình!

Oai phong lắm khi ta uống rượu
Bàn tay chừng nâng được cũng dăm ly
Đời cứ quẳng ra cho người ta nhặt
Như đồ cũ mang ra sẵn vỉa hè

Hôm nay ngày nào và tháng mấy
Còn tháng ngày trên tờ lịch kia sao
Cầm ly lên có lẽ nào để xuống
Bụng đã căng thì xối rượu lên đầu!

Còn những ai trên đời này thế
Những ly kia lần lượt biến đâu rồi
Hoặc giả chẳng có ly nào hết
Ta một mình uống với ta thôi!
15-8-2014


*TẢN MẠN : Con thằn lằn



CON THẰN LẰN

Hôm nọ làm nhàgiữa hai bức tường bằng gỗ người chủ để một khe trống, dường như đó là nhà kiểu Nhật Bản. Vì sao người ta lại thiết kế một kiểu tường như thế có thể giải thích được là tại xứ ấy hay có động đất, nhưng đó không phải điều đáng quan tâm trong chuyện sắp kể. Cũng có thể không bao giờ có một bức tường như vậy cả. Bức tường chỉ là bối cảnh cho một con thằn lằn lâm nạn. 
     Chuyện là, một bữa nọ chủ nhà đóng một cây đinh vào tường không biết ông ta làm như thế để làm gì và điều ấy cũng không quan trông. Mấy năm sau vì một lý do gì đó người ta đục bức tường ra thì thấy một con thằn lằn bị chiếc đinh đóng vào đuôi không thể chạy được. Người chủ ngạc nhiên không hiểu nổi khi nhận ra chiếc đinh mà mình đóng vào tường đã làm cho chú thằn lằn bị tai nạn mất khả năng di chuyển nhưng cho đến hôm ấy chú vẫn sống bình thường. Nhưng người ấy sẽ không phải đợi lâu để có một lời giải đáp, một chú thằn lằn khác lò dò mang thức ăn đến cho đồng loại bị nạn, xong bỏ đi. Thì ra trong suốt những ngày khốn khổ ấy chú thằn lằn nhờ thức ăn của người bạn không quen nên vẫn sống cho đến hôm đó!
     Và đây là chuyện được những người đồng thời kể lại, chuyện xảy đến với nhà thơ - đặc biệt nổi tiếng với bài “Màu Thời gian” - Đoàn Phú Tứ trên chiến khu thời chiến tranh Việt Pháp 1950.
     Một hôm nhà thơ nhận được thiệp của đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu mời dự tiệc cưới của một thuộc cấp thân tín do ông ta làm chủ hôn. Hội trường dựng bằng tre nứa, lợp lá gồi, sáng trưng những dãy bạch lạp to bằng cổ tay. Trên những dãy bàn dài tít tắp, xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, nấm hương, giò chả, thịt bê thui, rượu tây, cốc thủy tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng. Ban nhạc sống được mời từ Khu 3 lên tấu nhạc réo rắt. Chủ hôn mặc quân phục đại tá choáng lộn, cưỡi ngựa đến dự cưới, theo sau là một vệ sĩ cao lớn, súng lục đeo xệ bên hông. Rượu vang đỏ rót đầy các cốc. Ông đại tá trịnh trọng giới thiệu Đoàn Phú Tứ, nhà thơ cự phách của nhóm Xuân Thu Nhã Tập và mời nhà thơ lên đọc một bài mừng cô dâu chú rể và quý vị tân khách.
      Đoàn Phú Tứ đứng lên, mắt đăm đăm nhìn cốc rượu vang đỏ như máu đầy tràn trước mắt. Ông bỗng thấy giận run lên với ý nghĩ: Bọn đầy quyền uy này, đã quen coi thi sĩ là kẻ nô bộc, và thơ là món đồ trang sức, một thứ gia vị cho bữa ăn tội lỗi của chúng thêm ngon miệng. Nhà thơ nói  “Tôi dọc một câu thơ, câu thơ đó như sau: Bữa tiệc cưới chúng ta sắp chén đẫy hôm nay, được dọn bằng xương máu của chiến sĩ!" - “Láo!”, ông đại tá tái nhợt quát to. Tiếp liền theo đó là tên vệ sĩ xông tới tát bốp vào mặt nhà thơ. Nhà thơ lặng lẽ rút khăn tay lau mặt, và đĩnh đạc bước ra khỏi phòng cưới. Trong khi đó thì các vị khách còn lại vẫn vui vẻ nhập tiệc như không có gì xảy ra! Ngay đêm hôm đó, nhà thơ viết một bức thư dài tố cáo với cấp trên trình bày toàn bộ sự việc. (Đại tá cục trưởng Trần Dụ Châu bị tử hình năm 1950 sau đó vì tội tham ô.) .
    Con thằn lằn không biết nói tiếng người nên không ai biết vì sao nó làm thế! Tiếc thật!
  

Thứ Tư, ngày 13 tháng 8 năm 2014

*TẢN MẠN : Chuyện thi sĩ Cà Rốt




CHUYỆN THI SĨ CÀ RỐT

     Tên Cà Rốt là do người viết đặt cho anh ta. Đó là một người không khác những người thường ở phần cơ thể học.Cái khác chút xíu là vào những lúc lang thang ngoài phố anh ta hay nhìn lên trời và... cười cười mỉm chi!
    Anh Cà Rốt trong nhiều năm trắng tay nhưng nhờ một chút siêng năng làm việc và vận may mắn, trong không bao lâu căn nhà anh ở trở thành nhà mấy lầu cao ngất, chiều chiều đứng ở sân thượng nhìn thấy cả con lạc đà ngoài sa mạc Sahara hay con Kangaroo đang nhảy cà tưng bên xứ Úc. Khi tuổi đã hơi “đèn lồng đỏ treo cao cao” anh Cà Rốt lại may mắn có một người bạn gái tính tình vui vẻ thích hài hước và lý sự nhưng sống nghiêm chỉnh nhận cùng với anh thành một đôi uyên Bắc ương Nam gặp nhau qua cầu Ô thước số hóa thành vô hình.
     Ai ai cũng tưởng anh Cà Rốt là người hạnh phúc, nhưng mấy ai học được chữ ngờ, con người này lại mang trong lòng mối sấu thiên cổ và dăm mối sầu thế sự mà mỗi lần nghe anh ta thổi sáo ai cũng thấy tiếng địch véo von mà ai óan, mơ màng mà não nuột. Người này mắc bệnh buồn trầm kha!
     Một buổi tối, trong căn phòng vắng lặng, nhìn chiếc computer siêu hiện đại mới mua lúc chiều, Cà Rốt thấy một cái núm nhỏ màu đỏ bé chỉ như cái hạt đậu. Không hiểu công dụng nhưng có óc tò mò, nhân vật của chúng ta nhấn đại vào nút ấy. Máy phát tín hiệu xanh dịu sáng cả một góc phòng, sau đó là mấy tiếng tít tít nghe khá êm tai. “Chào anh bạn Cà Rốt”, giật mình hỏi lại, Cà Rốt nghe có tiếng đáp “Tôi là thiên sứ nhà trời đây, hân hạnh làm quen với bạn, nhà thơ của quần chúng”. Chuyện giới thiệu qua lại đã xong, thiên sứ nghe được tâm sự của người dương thế và người dương thế được biết về những thứ dưới này không có còn trên nhà trời thì… “ Ôi, chuyện nhỏ!”.
    Từ hôm ấy đường xa vô tận hóa thành gần gụi trong gang tấc. Qua thiên sứ, Cà Rốt tràn trề hạnh phúc vì trên nhà trời không có buồn đau, không còn bóc lột, chữ thủy chung không có chữ nào đối lập và thay thế…Trên đó người ta an nhàn nhưng không quá dư thì giờ đàn đúm “tám” chuyện người khác, ai cũng biết lịch sự, chẳng hạn không dùng điện thụi thụi vào tai người khác lúc nửa đêm hay bất cứ khi nào nổi hứng. Và trên đó mọi người cũng không đi như chạy ngoài phố giống người Tây, là người theo tín ngưỡng ẩm thực và a lô, Cà Rốt được thiên sứ cho biết hai thứ ấy thật tuyệt hảo và hoàn toàn free trong nhà Trời!
    Bù lại, Cà Rốt cũng thật sung sướng với giấc mộng thi ca nuôi đã bao năm mà không nảy mầm, giờ thì chỉ cần ấn vào một cái nút và nhắm mắt lại tưởng tượng ra một diều gì đó là thi sĩ Cà Rốt có ngay một bài thơ! Thiết bị làm thơ đó để ở nhà trời và thiên sứ hứa sẽ mang xuống cho Cà Rốt mượn để thành nhà thơ trong vài ngày và chàng sẽ có một thi tập ra mắt thị trường. Hạnh phúc vô biên, nhà trời là như vậy!
    Tối hôm qua, Cà Rốt vừa sắp kết nối thì nghe có tiếng gõ cửa. Một người đàn ông xa lạ ăn mặc bảnh bao bước vào. “Chào Cà Rốt, tôi là thiên sứ, bạn anh đây” – người lạ nói. Chủ nhà cuống quýt dùng ngay ngôn ngữ của anh Xuân Tóc Đỏ “Chúng tôi rất lấy làm hân hạnh”. Hai bên hàn huyên càng lâu càng thắm thiết, cởi mở và thiên sứ tháo một thiết bị lạ mắt gắn  sau lưng ra để trên bàn. Cà Rốt tò mò thì được cho biết đó là đôi cánh điện tử để đi lại giữa thiên đình với dương thế, nó cũng cần một password làm chìa khóa sử dụng. Thích quá, trí tưởng tưởng nổi lên, nhân vật của chúng ta ngỏ ý muốn được lên nhà trời chơi một lần cho biết, và thiên sứ OK ngay với tất cả tình thương mến.
    Cà Rốt được gắn đôi cánh điện tử vào lưng, vội vàng ấn đại vào một cái nút và thế là anh ta vút qua cửa sổ, phát ra tiếng o o lao thẳng lên chín tầng mây vào không gian bao la lúc sáng lúc tối khi nóng khi lạnh mà nhà trời mãi không thấy đâu.
    Hoảng sợ đến nỗi tè cả ra quần, Cà Rốt ấn đại một cái nút thì ra đó là nút kết nối với thiên sứ. Anh ta van xin thiên sứ chỉ cho cách bay trở lại nhà mình. “Muốn quay lại phải có password mà tôi quên nó mất rồi. Ráng lên, tôi nhường nhà trời cho bạn đấy. Còn tôi tôi đành sống với những gì bạn để lại trong căn nhà này. Vĩnh biệt con người hạnh phúc!”.
    Ước mơ hạnh phúc cho bản thân trong đó có việc thành một thi sĩ, thiết nghĩ là một ước mơ rất người vừa chính đáng lại vừa đáng yêu. Mơ một xã hội công bằng, bình đẳng, tự do như anh Cà Rốt thật đáng trân trọng vì chính anh đã chung chia với ước mơ của con người. Đã có bao nhiêu học thuyết, tín ngưỡng rao giảng và hứa hẹn mang lại hạnh phúc và thiên đường cho những con người như Cà Rốt và đơn giản hơn, bao nhiêu triệu người chung cảnh ngộ như thi sĩ Cà Rốt trong xã hội  chúng ta?