Thứ tư, ngày 16 tháng năm năm 2012

* Thơ CTC: Trăng lõa thể giữa đống đầy vải vóc



Cao Thoại Châu
Trăng lõa thể giữa đống đầy vải vóc


Khủng khiếp một đêm trăng trở lại
Ánh buồn rơi vãi xuống hồn nhau
Để hồn sầu những chuyện đâu đâu
Không màu bởi là trăng nguyệt tận

Không thể sáng vào ngày nguyên đán
Bởi trăng còn những nỗi đau riêng
Khi hai người dưới ánh trăng non
Chia với nhau mối tình già cỗi

Em áo trắng và tôi vô tội
Vườn địa đàng người khác đã đưa em
Trái táo đã một lần hủ hỉ
Trong hồn tôi vết cắn còn nguyên

Trăng yếu ớt vào đêm cuối tháng
Mặc sương buồn hoa cỏ dưới chân trăng
Hồn tôi vương những chuyện lằng nhằng
Như sợi xích xiềng lấy chân vô tội

Rồi một mai mỗi khi nào trở lại
Nói gì trên mặt nước lung linh
Trăng thanh tú rơi trên thân xác
Chút tình sầu xin rước vào thân

Muộn màng trăng soi một vuông sân
Bầy kiến thức theo tiếng gà báo sáng
Những con kiến rủ nhau đi kiếm sống
Xác thân này đã chết đêm qua

Một ngày đi ngày khác trở về
Khùng lên vì những đưa và đón
Nhìn mắt nhau chỉ thấy toàn bẽn lẽn
Trăng non vừa mới lõa lồ rồi

Trăng ơi đợi thẹn thùng với nhé
Đêm nao đã chết ánh trăng rằm
Ngời lên từ những khoảng tối tăm
Lõa thể giữa đống đầy vải vóc
16-5-2012



Thứ ba, ngày 15 tháng năm năm 2012

* Tạp văn CTC: Đàn bà dễ có mấy tay



Đàn bà dễ có mấy tay
        

         Tôi không thích truyện Kiều hiểu như một tác phẩm toàn bích hoặc kinh điển. Tuy vậy đây lại là truyện tôi đọc nhiều nhất, nhiều đến không thể nhớ là bao nhiêu lần trong những bối cảnh nào của đời mình. Phải nói là, vì phải gánh nhiệm vụ của một tiểu thuyết mang tính kể chuyện lại là tiểu thuyết của mấy thế kỷ trước, khi văn học nước ta chưa chịu ảnh hưởng phương Tây, nên trong Kiều có một số những câu thật chán mà đó lại là thơ lục bát nên càng chán và ngán hơn. Nhưng không sao, lâu lâu “hỗn” với tiền bối một chút, vả trong văn chương thì hình như được “hỗn” một chút miễn là “hỗn” có căn cơ và có…lễ độ.
        Là tôi vô cùng biết ơn cụ Nguyễn khi cụ cho tôi một số những nhân vật  đàn bà để cứ mỗi khi nhìn thấy họ là lòng tôi lại có phần ngao ngán hoặc một phần “sôi gan lộn tiết” lên.
       Trước hết có hơn một trinh nữ có quan hệ với nhân vật Kiều của tôi. Cô Thúy Vân khi xuất hiện lần đầu với  vai trò là “có chị có em” đi thanh minh cho vui, và lúc gia biến xảy ra trước lúc Kiều ra đi dấn thân vào vô định, Thúy Vân được nghe mấy câu tuyệt vời này “ Mai sau dù có bao giờ/ Đốt lò hương ấy se tơ phím này/ Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì hay chị về” thì lúc ấy là thời gian cuối cùng làm trinh nữ của cô. Còn khi gia đình đoàn tụ, Thúy Vân như thế nào thì chỉ những anh chàng ngố mới không biết. Đến đây, về mặt đạo đức cổ phong kiến cô Vân làm tròn lời cậy nhờ của chị trong nhiệm vụ tình chị duyên em nhưng về mặt tâm lý thì phải chăng cô lại là tình địch của Kiều? Tôi thấy trinh nữ ác thường là ác dễ chịu hơn cái ác của đàn bà?! Tôi vừa nói “hơn một trinh nữ” chứ không nói 2 hay 3 dù sau còn vài nhà sư nữ nhưng do tôi không có lý lịch cuả họ nên không biết khi vào nương cửa Phật “tình trạng” của họ như thế nào. Trinh nữ xuất gia hay lỡ dở đường tình duyên mà gửi thân nơi cửa nhà chùa.
        Bây giờ nói đến người phụ nữ thứ hai mà theo tôi là gắn bó với Kiều chặt nhất và lâu dài nhất. Cô ca sĩ Đạm Tiên. Nhà của Đạm Tiên khi hội ngộ với Kiều là “Sè sè nấm đất bên đường/ Dàu dàu ngọn có nửa vàng nửa xanh”. Là một hồng nhan có tài ca hát nhưng bạc mệnh, đang thời thành sao đắt show trên các sân khấu thì đùng một cái “Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương”. Kiếp giai nhân mà tài sắc lẫy lừng là thế nhưng khi nằm xuống thì chỉ duy nhất có một trái tim của người vô danh mong được dự live show của nàng nhưng “Thuyền tình vừa ghé tơi nơi/ Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ” an táng cho nàng một nấm mồ nông kiểu cái mả… mồ côi. Bởi vậy, sau những dầu dãi nắng mưa và sự lãng quên của người đời, khi Kiều thấy thì “sè sè nấm đất bên đường”! Người đẹp Thúy Kiều vốn là một thi sĩ nên nhanh chóng “Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần” tức một bài tứ tuyệt để tỏ lòng thương cảm với một hồng nhan quá cố. Bài thơ này, sau tôi có đố trên một diễn đàn mạng về nguyên bản của nó thì các tao nhân mặc khách đua nhau chép ra, chép ra mà không biết bài thơ ấy không có thực, Nguyễn Du chỉ tả việc Kiều làm thơ còn chính cụ không biết bài đó như thế nào thì sao hậu thế lại tranh cãi với nhau cho thêm phần…trào lộng?
        Hai người đẹp kẻ âm người dương chia tay nhau. Kiều đi về phía 15 năm phía trước theo kịch bản của Nguyễn Du với “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”. Đạm Tiên nằm đó, không biết trong cuộc đô thị hóa người ta có giải tỏa mộ nàng phục vụ các dự án hay không thì không ai biết được, bàn nữa chỉ thêm phần…tán dóc!
        15 năm Kiều lên bờ xuống ruộng mà theo nhà sư Tam Hợp thì “Lại mang lấy một chữ tình/ Khư khư mình buộc lấy mình vào trong// Ma đưa lối quỷ đưa đường/ Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”. Ô hay, sao thế thưa nhà tu hành? Chữ tình không buộc vào mà lại cởi ra thì còn chi là hai chữ TÌNH YÊU viết hoa? Còn chi là cuộc đời? Trách là trách những tên Sở Khanh ma cô, Thúc Sinh hảo ngọt mềm nắn rắn buông đã dám phũ phàng xua đuổi nàng “Liệu mà xa chạy cao bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi” thay vì thuyết phục Hoạn Thư theo lệ phong kiến mà cưới nàng, bằng không thì…xách Thúc phu nhân ra tòa xin một cái án ly hôn! Và phải trách Từ Hải võ dũng vô mưu cho nàng làm chuyện báo ân báo oán chí ư tầm thường rồi còn nghe nàng mà đầu hàng để cuối cùng chồng chết đứng vợ lênh đênh trên sông – không phải “lênh đênh trên sông Hương” của Lê Hoàng Long- mà lại là sông Tiền Đường “Trông vời con nước mênh mông/ Đem mình gieo xuống giữa dòng tràng giang”
      Ngư phủ tung lưới vớ một mẻ nặng trĩu tay, vui vì thu nhập hậu hĩnh sau một ngày lao động. Ông ta đã lưới một mẻ vô vàn hậu hĩnh: cái nặng trong lưới là tấm thân bồ tượng của Thúy Kiều! Và “Mơ màng phách quế hồn mai/ Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa/ Rằng “Tôi đã có lòng chờ/ Mất công mười mấy năm thừa ở đây”. Chờ nhau báo cho nhau the end của 15 năm lưu lạc “Đoạn trường sổ rút tên ra/ Đoạn trường thơ phải đem mà trả nhau”. Còn nhớ một thập kỷ rưỡi truớc, Kiều đã vạch lên cây trước mộ Đạm Tiên bài thơ tứ tuyệt, thì nay người trong cõi vĩnh hằng hiện về trả lại bài thơ đó. Cả hai lần không thấy Nguyễn Du ghi lại bài thơ bốn câu ba vần này, nó thành ra bài thơ ảo trong truyện Kiều. Mong sao có ai đó sử dụng công nghệ thông tin hiện đại giải mã được bài thơ này thì đó là vui lớn cho những ai mê truyện Kiều.
       Người đàn bà mà tôi sắp nói đến trong bài đây tất nhiên không ai khác Hoạn Thư. Nếu sinh nhằm thời nay mà vốn là con một bộ trưởng (thượng thư) ắt Hoạn Thư phải học đại học Luật ra làm luật sư, “Ở ăn thì nết cũng hay/ Nói điều ràng buộc thì tay cũng già”, qúa đúng cho rồi! Không giết, không tạt a xít tức là không phạm tội hình sự, mà chỉ “Làm cho cho hại cho tàn cho cân” mà thôi. Còn gì đứt ruột hơn cảnh Kiều phải gảy đàn trong tiệc vui của vợ chồng Hoạn và Thúc? Còn gì “luật sư” hơn việc đổi tên Kiều là Hoa nô- con ở ngay trong nhà mình để ngày ngày Kiều-Thúc vẫn ra vào gặp nhau mà lòng chín như đem chiên trên chảo mỡ? Tới khi bị Từ Hải bắt về cho Kiều trả oán thì một lần nữa Hoạn Thư lại chứng tỏ mình đáng cấp bằng Tiến sĩ luật khi vừa lý sự cùn tâng Kiều “Lòng riêng riêng cũng kính yêu/ Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai!” lại vừa “móc” một câu “Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo” tức là nói chuyện Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư có ăn trộm một số tài sản làm tiền lộ phí mà không bắt  lại để đưa ra toà án! Kết quả, Hoạn Thư được tha bổng trong khi bao nhiêu người chết thảm dưới làn gươm trả thù trả oán.
       Chót hết là má mì Tú Bà. “Lầu xanh có mụ Tú Bà/ Làng chơi đã trở về già hết duyên”. Với thâm niên như vậy má mì có đày đọa thế nào với Kiều thì cũng không lạ, bởi chính “má” cũng trải qua những ngày vừa bước chân vào thanh lâu. Quá trình phát triển từ nạn nhân thành thủ phạm đã bào nhẵn lương tâm của người đàn bà này. Thay vì căm thù những tên ma cô thì chính mụ kết thân với chúng như một bản năng nghề nghiệp kinh doanh thân xác con người. Tôi nghĩ những chủ “doanh nghiệp” hay những “thượng đế” bước chân vào đây cũng đều là những  kẻ mà về mặt nào đó đáng thương bởi họ chẳng còn biết hương vị cuộc sống là gì, chỉ thấy mùi bùn nhơ thôi.
       Không hiểu sao tôi lại không xếp Tú Bà vào hạng đệ nhất kinh tởm. Có lẽ vì thành phần xuất thân của mụ chăng? Hay là dầu sao mụ cũng không đến nỗi “vô học” khi còn cho Kiều ra ở lầu Ngưng Bích chờ có nơi xứng đáng thì bán cho làm vợ? Giả sử có một đại gia nào đó ghé tới mà chịu mua Kiều thì hẳn Kiều đã rẽ sang một hướng khác. Tôi không kinh tởm mụ nhất có thể còn là mụ đã thề ngày Kiều mới đến “ Mụ rằng “con hãy thong dong/ Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi?/ Mai sau ở chẳng như lời/ Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi”. Và sau này, khi túm được Tú Bà, Từ phu nhân cũng đã “ Lệnh trên truyền xuống nội đao/ Thề sao thì lại cứ sao gia hình/ Máu rơi thịt nát tan tành”.
      Chuyện Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích thì “Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa/ Buồn trông ngọn nước mới sa/ Hoa trôi man mác biết là về đâu/ Buồn trông nội cỏ dàu dàu/ Chân mây mặt đất một màu xanh xanh/ Buồn trông gió quyến mặt duềnh/ Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi”. Có phải Nguyễn Du “bù lỗ” cho người đọc những câu thơ và bức tranh đắt giá này ?.
    Tôi không phải một fan “hooligan” của truyện Kiều nhưng đó là một trong vài cuốn sách tôi có thể đọc nhiều lần qua nhiều trạng huống lên bờ xuống ruộng của đời mình. Một trong những lý do là cái “thần” của truyện bám trụ nơi các nhân vật nam và nữ với biệt tài của tiền bối.

-----------
In nghiêng là trích trong truyện Kiều 

Chủ nhật, ngày 13 tháng năm năm 2012

* Thơ CTC: Vĩnh biệt PM Bích Ngọc



Pleime (Pleiku) là trường tôi dạy 40 năm trước. Lớp học trò con gái ngày ấy giờ nhiều người lên chức bà ngọai. Kẻ ở trong nước người sống tại nhiều quốc gia, nhưng họ vẫn giữ được tình với trường, với thầy và  với bạn bằng hai chữ PM trước tên họ của mình. Hôm nay một PM nằm xuống...

Cao Thọai Châu
Vĩnh biệt PM Bích Ngọc


Không hiểu và không tin có thể
Lá vàng sẽ tiễn lá xanh đi
Tôi và em không có chung kỷ niệm
Tất cả dồn vào lớp học năm xưa

Lớp ngày ấy với tôi là mùa gặt
Không bội thu nhưng không thất bát điều gì
Những đứa trẻ trong thành phố lính
Cuộc chiến thật gần bom đạn không xa

Trường chúng ta trên ngọn đồi nhỏ nhắn
Chiều đăm chiêu cũ kỹ nắng hoe vàng
Tôi vẫn đứng chờ cơn gió núi
Thổi bụi về qua dãy hành lang

Ai hiểu cho tôi những phút vui buồn
Những phút hồn tôi như lá cây sắp rụng
Gửi tất cả vào lòng viên phấn
Tương lai hồng tôi viết trên bảng đen

Phải giấu đi những bước thăng trầm
Giấu đi cả những điều nghịch lý
Giấu những con người mà tôi yêu thương đó
Trong trái tim của một người thầy

Tôi cần các em có một tương lai
Mỗi các em có một đời đáng sống
Dù tôi có là con thuyền đã hỏng
Vẫn gắng chèo cho tới bên kia sông

Vậy mà lá xanh đi trước lá vàng
Đủ đau đớn và nhiều buồn bã lắm
Thôi đã rụng của tôi một niềm hy vọng
Của lớp em một chiếc lá xa cành

Lời cuối cùng chúc em bình an
Yên vui hơn trong cõi vĩnh hằng
Tôi đang nghĩ về điều sống chết
Không biết điều nào có thể nói vui hơn!
Tân An 13-5-2012

 

&CHÀO NGÀY MỚI: Cú điện thoại trong Ngày của Mẹ


 

Tinh mơ nghe điện thoại reo, tiếng reo cho biết nó đã vượt nhiều múi giờ để tới được tai của người đây. Và linh tính mách bảo đây là một cú điện thọai vui. Và đúng, ở bên kia đại dương, ở bên kia mấy tầng mây có một người mẹ đang vui vì hôm nay là ngày của những người như cô ấy. Vượt qua tất cả những năm tháng nắng mưa, những bất đắc trong cuộc sống, người mẹ đã lai Tây này đã làm nhiều hơn có thể đối với những đứa con của mình bằng tâm hồn Á đông và nhận được những gì nhiều hơn có thể từ những đứa bé của mình.
       Phương Tây có những ngày lễ mà bên đây không có, nó mang tính chất tình cảm hơn là một ngày tưởng niệm với những lời biểu dương như ở bên này. Lễ Moher’s Day của họ đưa mọi người về với tình mẹ con cụ thể  hơn là chỉ đề cao công lao của người mẹ nói  chung.
      Được người mẹ trẻ này cho một cú điện thọai đường dài không mang theo gió mưa giông bão, thấy nhớ đến những bà mẹ VN và những đứa con không có, không còn mẹ. Con vịt vừa nở ra từ cái trứng có thể xuống nước bơi theo bản năng của loài này. Nhưng cái khôn ngoan trong kiếm ăn thì hẳn nhiên vịt con phải hình thành dần dần theo vịt mẹ. Nhớ hồi trước nuôi dê, con dê mẹ mang thai và buổi sáng đi làm vẫn thấy nó nhảy nhót ăn uống bình thường, trưa về thấy cạnh nó là 3 chú dê con tung tăng ngoắc ngoắc cái đuôi ngắn củn. Vậy là con dê mẹ đã tự làm những việc của một sage femme trong cuộc “đi biển mồ côi một mình”. Nó tự làm lấy những việc mà người chủ phải làm cho nó trong ngày nó được làm mẹ.
      Trước đó vài năm, có nuôi một con heo Mọi tức là heo nhỏ con gốc từ miền núi. Do tò mò đã cho nó phủ nọc bởi phương pháp gieo tinh nhân tạo. Nó có bầu và nó sinh con. Chú heo con đầu tiên chỉ ghé qua cuộc đời có vài giây, sau đó thì chú lìa đời. Con heo con thứ hai ra đời bình thường, to con giống heo bố, đến đó thì heo mẹ nằm xuống. Nó mệt vì những cơn rặn đẻ không hiệu quả. Phải mời bác sĩ , loay hoay một hồi với những động tác cơ học thuần thục mà không hiệu quả trong khi heo mẹ đuối sức dần, bác sĩ chỉ cho thằng con nhỏ cách làm vì bàn tay của nó còn bé con. Và sau một hồi làm dưới sự chỉ dẫn của bác sĩ, đứa con đành bó tay, đúng hơn là bác sĩ bó tay. Heo mẹ chết vì mất sức quá nhiều, con heo con thành heo mồ côi được nuôi bằng sữa bò giống như những đứa trẻ con khác. Nó lớn lên nhưng không lớn khôn mà khờ khờ như đứa trẻ mất dạy từ ấu thơ, theo dõi nó những ngày sau thấy nó hung hãn hơn những con heo cùng chuồng, sống vô trật tự hơn. Muốn biết thế nào là người mẹ thì hãy nhìn những đứa con không có mẹ, sống xa mẹ, những đứa trẻ mồ côi thường nhan nhản trên tivi, nhìn chúng sẽ nhận ra thế nào là mẹ!
      Còn một chuyện tôi không bao giờ vơi cảm xúc mỗi khi nhớ lại. Đó là thời gian 3 năm trong trại cải tạo tôi có nuôi một con gà mái. Nó sống bằng cơm rơi vãi của mấy trăm người tù và những con trùn tôi đào cho nó mỗi ngày. Đêm nó ngủ trong cái lồng sắt che chắn cẩn thận ở dưới gốc cây trứng cá cạnh phòng tôi. Nó lớn lên bình an khỏe mạnh nhưng rồi một hôm nó bỏ tôi đi để lại cho tôi nỗi buồn đơn chiếc và thắc mắc không biết nó đi đâu. Trong cảnh tù, tâm hồn lãng mạn và lòng tiếc của không cho phép tôi kéo dài hơn. Khi tôi đã gần quên những gì xảy ra thì bỗng con gà về ngay đúng cái lồng của nó, dẫn theo một đàn con bắt mắt. Óc tò mò thúc đẩy, tôi phăng ra thì ra thời gian son rỗi nó bắt tình với gà trống của lính cảnh vệ và nó đẻ trứng trong một bụi cây, thời gian bỏ tôi là khi nó làm nhiệm vụ một người mẹ trong cái lùm cây đó. Mẹ tròn con vuông thì nó không quên tôi và đã quay về. Làm sao nói hết niềm vui trong chốn nhà tù và làm sao nói hết tấm lòng hiền mẫu bao la chịu nắng mưa suốt bao nhiêu ngày vì đàn con của con gà mẹ này?
         Nhạc sĩ Phạm Duy có ca từ “Mẹ già cuốc đất trồng khoai nuôi con đánh giặc đêm ngày…” và ấn tượng rất mạnh là “Bà mẹ Gio Linh” thản nhiên nén nỗi đau ra chợ ôm đầu con về biến nỗi đau thành căm thù và kẻ thù đã bị trả thù bởi tấm lòng người mẹ đối với con như bà mẹ Gio Linh này. Trịnh Công Sơn cũng có “Huyền thoại mẹ” với câu kết  “…mẹ là gió mong manh”. Các ông mới chỉ phác họa chân dung người mẹ trong hoàn cảnh chết chóc của chiến tranh có những người mẹ mất con, các ông chưa khắc họa hết tấm lòng mẹ trong cuộc sống rộng lớn và thường hằng! Mẹ không chỉ dạy con yêu nước, mẹ dạy con làm người! Việc khắc họa này là của mọi đứa con, nhất là những đứa con côi hay kể như côi! Một câu nói thú vị “Có những phụ nữ không có con nhưng mọi đứa con đều phải có mẹ!”


* Thơ CTC: Mưa Tân An nhớ chiều mưa biên giới



Cao Thoại Châu
Mưa Tân An nhớ chiều mưa biên giới

 .. đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều...
(  ca từ Nguyễn Văn Đông)



Như chiếc áo mùa đông giá rét
Tôi mang thơ phủ trái tim người
Có thể có thể nào ấm được
Làn sương khói lẻ run trên môi

Tôi chia với cơn mưa một nửa
Tuyết mùa hè nắng lửa mùa đông
Và biết bao nhiêu điều nghịch lý
Gai sỏi vô tình rắc dưới đôi chân

Đường tôi về trời đổ mưa giông
Thơ che sao cho người khỏi ướt
Làm sao nói với bầu trời vô cảm
Rằng cơn mưa tàn nhẫn vô cùng

Thơ không đủ che tròn dĩ vãng
Mịt mù trong một cõi xa nào
Những sợi mưa một đời đã hứng
Làm sao tôi biết được bao nhiêu

Và bao nhiêu hạt mưa đã mất
Bao nhiêu hạt còn giữ trong tay
Như thế giữa một vùng kỷ niệm
Chiều mưa giăng tím trái tim người

Câu thơ buồn phủ xuống đôi vai
Chiều mưa lạnh giữ giùm hơi ấm
Mỗi hạt mưa có riêng sức nặng
Trải bao mùa đơn lẻ bước tôi di

Và bao mùa đơn lẻ tôi về
Nhìn cơn mưa mà lòng nhức nhối
Quá khứ đi không quay về lại
Những niềm đau cất bước đi cùng

Chiều về với cơn mưa bên trong
Mưa rơi như phủ nỗi đau thầm
Phố và cây thảy đều co rúm lại
Tự hỏi mình buồn chút chi không
12-5-2012
 

Thứ sáu, ngày 11 tháng năm năm 2012

* Tạp văn CTC: Những người đàn ông làm khổ Thúy Kiều


Những người đàn ông 
làm khổ Thúy Kiều


     Truyện Kiều dài 3.254 câu thơ lục bát, lại là truyện kể theo mô típ cổ điển bám theo sự việc và trình tự thời gian, hơn thế còn là truyện luận đề nhằm chứng minh khái niệm “ Hồng nhan bạc mệnh” cho nên nó rất đông nhân vật. Về điểm này, Nguyễn Du lấy bối cảnh là nước Tầu rộng mênh mông nên nhân vật nếu chỉ có một nhúm thì truyện rất loãng, không ấn tượng như nó đã có.
     Một nhận xét có thể có phần khả chấp, đó là nhìn chung nhân vật nữ trong truyện  ác với Kiều theo một cách khác với những tên đàn ông. Chính chỗ này mới làm đình đám luận đề “hồng nhan bạc mệnh”?
     Người đàn ông đầu tiên là Kim Trọng, không hiểu sao tác giả lại tả chàng một cách duy ý chí, ước lệ đến vậy? Là bạn với người em trai út của Kiều trong lúc Kiều mới ở tuổi cập kê hẳn Kim Trọng chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định hiện nay. Một thiếu niên vậy mà “Người quốc sắc, kẻ thiên tài/ Tình trong như đã mặt ngoài còn e”, chưa học hành chi nhiều, chưa bằng cấp (dù chuyên tu tại chức) và cầm kỳ thi họa bù trất, sao được đánh giá là “thiên tài”? Tôi muốn nói chính cái chỗ phải gánh vai quá nặng mà mình thì bất cập, hụt hơi cho nên có thể nói Kim Trọng là người đầu tiên góp phần làm hỏng đời Kiếu. Kiều đã không có được người tình đầu có bản lĩnh thực vì vậy mối tình đầu xem ra là tình ước lệ gán ghép và hơi ảo. Với một phụ nữ, khi nhận ra mối tình có thể đẹp lâm ly du dương nhưng lại không là tình chín chắn có thực chất thì kể như đời cũng mang một vết thương. Trong một bài viết trước đây về con người phải đóng vai nhân vật lớn này, tôi đã mạo muội viết “chàng bù nhìn làm hỏng một tình yêu”. Bây giờ nghĩ lại tôi không trách mình bởi  sau 15 năm lưu lạc bạn tình mang nhiều vết thương cay đắng thế mà con người này lại đòi chuyện vợ chồng! May mà “Chữ trinh còn một chút này ? Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan” như một lời cảnh báo nghiêm khắc của Kiều đối với người tình năm xưa. Cái chuyện về Liêu Dương thọ tang chú của chàng Kim tạo ra sự vắng mặt của chàng khi xảy ra gia biến của Kiều chỉ là một cái cớ mà tôi cho là không đắt giá. Câu hỏi là, nếu Kim không vắng mặt ở Bắc Kinh thì liệu chàng sẽ làm được gì khi “Một ngày lạ thói sai nha/ Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” ? Không có câu trả lời thật sự thỏa đáng cho nên chuyện Kim phải về Liêu Dương trở thành một ước lệ hơi có phần thiếu hiện thực.
       Bây giờ nói về hai tên Mã Giám Sinh và Sở Khanh. Kẻ thì “ Quá niên trạc ngoại tứ tuần/ Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”, kẻ kia lại “Một chàng vừa trạc thanh xuân/ Hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng”, Nguyễn Du quá tài khi ký họa chân dung kẻ ma cô. Không phải cứ quần jean áo gió là người tình  nhưng cặp đàn ông có bề ngoài tỉa tót mà bản chất lừa đảo tình bất nhẫn này có gây cho Kiều thảm họa hồng nhan thì quả là không còn gì để nói ngoài việc thương cho trâm anh rơi vào tay kẻ phàm phu ác tâm đa dục. Với hai gã đàn ông này ngọn bút của tác giả quá ư sắc sảo khi cho thấy chỉ nhìn thoáng, chỉ nghe qua đã thấy hành vi ngôn ngữ sỗ sàng của những người đàn ông không biết tình yêu là gì, là quý ra sao và đòi hỏi sự tương xứng như thế nào. Hai kẻ chỉ là bản năng sống bằng buôn người trước một hồng nhan đa cảm! Thân phận Kiều ra nông nỗi đến như thế đó.
       Và bây giờ đi tiếp với người phụ nữ này.
       “Khách du bỗng có một người/Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương/Vốn người huyện tích Châu Thường/Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Truy”. Một đàn ông có chút học, làm nghề buôn bán và so với hai tên kia thì rõ ràng Thúc biết người biết ta, có lòng yêu quý Kiều, biến tình khách du thành tình hơi có phần tri kỷ, ít ra là Thúc muốn như vậy. Quan hệ Kiều-Thúc là một quan hệ tình cảm lén lút vượt lên trên chuyện ăn chơi dù chàng không đứng đắn gì. Là con rể một thượng thư hẳn là Thúc hiểu rõ thân phận mình, và thân phận ấy đến một lúc được bộc lộ ra, và Kiều lại là người lãnh đủ một mảng đời kinh khủng nữa. Hoạn Thư từ truyện bước vào đời thường rất nhanh chóng được công cộng hóa thành ngôn ngữ: Ghen như Hoạn Thư! Ở vào thời trai năm thê bảy thiếp đó, giá mà Thúc có được sự OK của vợ (một sự OK không mấy khó ở thời đó) thì chàng đã không thành người tệ bạc làm khổ thân Kiều thêm mấy thành công lực nữa. Nhưng một là, thân phận rể của Thượng thư không cho phép chàng có được sự OK kia, hai là chàng có tình yêu với Kiều chứ không chỉ muốn làm khách du như bao người khác. Và hai điều này nằm trong tay Hoạn Thư để cuối cùng anh chàng đa tình nhát gan này buông 2 câu khiến người có chút cảm tình với chàng phải thu hồi cảm tình đó “Liệu mà xa chạy cao bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi”, một sự bạc tình thô bỉ! Rồi “Chém cha cái số hoa đào/ Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi” Kiều vào lầu xanh lần 2 mà không phải không có sự phủi tay của Thúc Sinh!
       Tôi thật khó hiểu khi những câu thơ thuộc hàng hay nhất trong truyện Kiều lại là những câu liên hệ đến Thúc Kỳ Tâm. “Tóc thề đã chấm ngang vai/ Nào lời non nước nào lời nước non”. Và đây “Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”. Khi tạm biệt thì lâm ly quá chừng “Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi/ Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” quả là những câu thơ đẹp và trữ tình lãng mạn hiếm có xưa nay. Thế là Thúc Sinh khuất vào hậu trường và sân khấu xuất hiện một người đàn ông khác, Từ Hải. 
     Nhiều người cho Từ là đấng anh hùng có lẽ vì mấy câu mang tính ước lệ “ Râu hầm hàm én mày ngài/ Vai năm tấc rộng thân mười thước cao/ Đường đường một đấng anh hào/ Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”. Thực ra đó chỉ là một thảo khấu loại nổi trội không hơn, càng không thể thổi phồng thành cuộc khởi nghĩa nông dân lật đổ chế độ phong kiến. Từ Hải là kẻ “ được làm vua thua làm giặc” không có nhãn quan một chính khách mơ nghiệp lớn, đừng thổi phồng con người này lên làm gì, thổi lên quá tay ếch không thành con bò mà thành một sự vỡ tung! Và đã vỡ!
      Thậm chí “Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường/ Bán thế yên hoa trái vị thường” (Phạm Quý Thích), phải nhảy sông mà chết mới mong trả được cái “nợ” thanh lâu! Nhưng nợ ai? Sao là nợ khi rõ ràng đó là tai họa gây nên cho nàng bởi một bọn đàn ông có bẻ chân vứt cho chó ăn cũng chưa hết tội?
      Nhưng, do là một truyện luận đề nên Kiều không chết được. Cảm giác không còn thú vị nhiều khi đọc đoạn truyện Kiều này vào những lần sau lần thứ nhất. Người phụ nữ ấy – tôi gọi là phụ nữ chứ không gọi đàn bà – còn phải sống nên đương nhiên sẽ có một cái cớ nào đó để dòng nước Tiền Đường không cuốn nàng đi. Và nàng sống để bị hành tỏi thêm nữa…cho hết luận đề “Hồng nhan bạc mệnh”!
       Những nhà nghiên cứu truyện Kiều theo khuynh hướng hiện thực cho rằng nguyên nhân khiến Kiều bị bán làm gái thanh lâu từng ấy năm trời là do chế độ phong kiến thối nát, tôi thấy không ổn lắm vì ngay dưới những xã hội có sau phong kiến nghĩa là tiến bộ hơn thì những câu chuyện mua đi bán lại phụ nữ của những tên lưu manh cạn kiệt lương tâm vẫn có và có nhiều. Và điều này dường như thuộc đạo đức xã hội hơn là tên gọi của một xã hội. Chừng nào còn những đàn ông hoang dâm, một vợ chưa đủ hoặc gã đã chán ngán, đi tìm của lạ thì chừng đó việc mua bán, đẩy phụ nữ xuống bùn nhơ vẫn còn dù xã hội mang tên gì.
       Tôi suy nghĩ nhiều về cuộc tình Kiều- Từ Hải. Dường như trong con người thảo khấu nhiều dũng ít mưu của mình Từ Hải còn một cặp mắt xanh không lớn chỉ đủ để nhận ra chỗ cho Kiều không phải là thanh lâu và Từ không chỉ là một khách làng chơi bình thường. Gặp nhau, họ tỏ tình với nhau không nhiều, với Từ Hải thì đó là trái tim giặc cỏ rung động trước một hồng nhan bạc phận. Còn với Kiều sau những gì đã xảy ra trước đó nàng không còn sự chọn lựa nào khác, đúng hơn phải chọn trong một tư thế bất bình đẳng của thân phận một gái thanh lâu. Vì vậy tôi nghĩ cái ơn nhiều hơn cái tình.
     Nhưng sao lại bảo Từ Hải cũng là người làm khổ thân Kiều? Là khi đã thành một phu nhân, Kiều thực hiện báo ân báo oán và Từ có vẻ kiêu hãnh khi giúp vợ thực hiện chuyện xem ra không phải của người nuôi chí lớn. Nhưng phải tới chưyện nghe một lời khuyên thật đàn bà của Kiều mà ra hàng triều đình thì tới đó cái nhìn về Từ Hải mới xuống thấp vài bậc. Được làm vua thua làm giặc, chàng chọn trung bình cộng của “được+thua: 2” , và chàng chết đứng, cái chết tầm thường, là lẽ đương nhiên!
     Từ chết, Kiều ra sông Tiền Đường,  “Trông vời con nước mênh mông/ Đem mình gieo xuống giữa dòng tràng giang”  nhưng người đàn bà này không chết, luận đề của tác giả đã cứu nàng. Đoạn Kim- Kiều tái hợp tôi đọc mà không thích, vì nó có hậu mà là một cái hậu nhạt không nhiều ấn tượng. Nhân vật Kim Trọng có vẻ không trưởng thành nhiều như tôi trông đợi. Điều này cũng khổ thân cho Kiều vậy.




Thứ tư, ngày 09 tháng năm năm 2012

* Thơ CTC: Nhớ em anh tếch lên rừng




Cao Thoại Châu
Nhớ em anh tếch lên rừng

* Mạn phép cậy nhờ thơ tiền bối


Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Anh làm thơ chuối lúi cũng vì em
Thơ anh nhỏ nước ròng ròng
Nhỏ ra buồn buồn có vị đắng cay

Yêu nhau thì nắm bàn tay
Trước kia gân nổi mà nay mịn màng
Ấy là nhờ có yêu thương
Vẽ cho cái đẹp biết đường mà đi

Kể từ khoác áo chinh phu
Anh ở quốc nội em ra biển ngoài
Nhìn chi cũng thấy thành hai
Nhớ nhung tràn cả ra ngoài trái tim

Chạnh lòng thương bóng em tôi
Đường chiều bóng nhỏ ngậm ngùi lòng nhau
Em nâng cổ áo lên cao
Đừng cho hơi ấm chút nào bay đi

Bên này anh nhớ bên kia
Bên kia lại ngóng trông về bên đây
Xa nhìn trong cõi trời Tây
Em ơi có thấy một cây liễu buồn?

Biển mùa này khi trong khi đục
Anh soi mình vào mắt em trong
Em ơi anh có một mình
Làm sao vượt được Thái Bình Đương cho

Không qua được anh buồn anh đứng
Như tượng đồng phơi trải nắng mưa
Thiên nhiên có tới năm mùa
Dài ra vô tận là mùa nhớ nhung

Nhớ em anh tếch lên rừng
Ào ào thác đổ trắng vùng núi non
Xa xa là Ấn Độ Dương
Và xa hơn nữa là đường phố Tây!
8-5-2012
  


Thứ hai, ngày 07 tháng năm năm 2012

& CHÀO NGÀY MỚI: Cuốn nhật ký của một người tử trận


     

Talk Vietnam trên đài truyền hình VTV vừa giới thiệu chương trình của một nhóm nghiên cứu người Úc nguyên là những binh lính quân đội Hoàng gia Úc từng tham gia cuộc chiến tranh ở Nam VN bên cạnh quân đội Mỹ. Khuôn mặt của người đàn ông Úc luống tuổi có cái bụng hơi đồ sộ trông hiền lành thật thà và tràn đầy cảm xúc. Nhóm phi chính phủ này chuyên đi tìm nơi án táng quân nhân VN do chính lính Úc đã chôn cất sau những cuộc giao tranh giữa hai bên thời đó. Để ý nghĩa nhân đạo và những ý nghĩa hữu nghị sang một bên, thấy rõ cách làm việc của nhóm người Úc này vừa khoa học vừa có tư duy và phương pháp làm việc rất chuyên môn.
    Họ tìm được bản thống kê có gần 4.000 lính VN tử trận trong vùng họat động của lính Úc và được lính Úc thời đó chôn cất, danh sách còn lưu trữ tại Bộ Quốc phòng ở Canberra . Dùng kiến thức khoa học bản đồ kết hợp với công nghệ tin học những người thuộc nhóm này xác định được vị trí an táng đồng thời tìm tới thân nhân người tử trận để trao cho gia đình những kỷ vật mà lính Úc thu được và giữ cho đến nay. Một cuốn tập học trò lọai thông dụng trong học sinh Sài Gòn trước 1975 được người tử trận dùng làm nhật ký mà là nhật ký bằng những bài thơ. Trong đó không thiếu những câu thơ tình tuy không hay nhưng chân thật về nỗi nhơ nhung của người ra trận gửi cho một cô gái nào đó ở quê. Trong đó còn là niềm tin vào thắng lợi cuối cùng chứng tỏ anh lính này được trang bị một thứ vũ khí tinh thần khá chu đáo. Trên đầu bài thơ xuân, tác giả vẽ một cành có hoa đỏ và nhà nghiên cứu Úc nhận ra ngay anh là lính miền Bắc vì theo ông, hoa đào không có tại miền Nam. Đúng là cái đầu của một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp.
      Một bà cụ 92 tuổi nhận được từ tay nhóm nghiên cứu hai chiếc khăn và một cuốn sổ của con bà mà theo ông người Úc này thì anh ấy tử trận do dẵm phải mìn. Hình ảnh cảm động là người mẹ mất con nói lời cám ơn với người từng ở phía đối phương và từng làm cho con mình ra đi vĩnh viễn vì bà cho rằng kỷ vật về cũng như con của bà về .
     Đại lọai nội dung công việc của nhóm cựu binh Úc này là như vậy, với họ càng tìm ra nhiều nơi an táng của lính VN bao nhiêu thì lương tâm càng yên ổn bấy nhiêu và nỗi ám ảnh trong lòng cũng nguôi dần. Những gì thuộc chiến tranh, dù xảy ra trên đất nước mình hay ở nước khác cũng đều làm cho tôi quan tâm và suy nghĩ về nó.
     Người đại diện của nhóm cho biết ông sang VN năm 1968 với tư cánh người lính và đóng quân ở tỉnh Phước Tuy. Chỉ mấy tháng sau, giữa chiến trường ác liệt ông nhận ra mình đã sai lầm khi sang đây. Là người mê truyện và phim chiến tranh, cho nên với tôi, mỗi cuộc chiến tranh là gồm bao nhiều những cuộc “chiến tranh” khác diễn ra trong đầu người lính, mà tính khốc liệt cũng không thua kém gì cuộc chiến trên thực địa với bom gầm đạn hú, đổ nát và chết chóc.
     Khi bước vào thời hậu chiến có những người vĩnh viễn không trở về, điều còn lại duy nhất với gia đình họ là nơi an táng vội vã, dã chiến ấy là ở đâu, cả một con người, một cuộc đời dồn lại một chút xương cốt là niềm khát khao duy nhất của gia đình. Những cựu binh Úc này tự nguyện làm công việc đó trong chừng mực khả năng có thể, một mặt góp phần giải tỏa khát vọng của những bà mẹ có con đi bao nhiêu năm giờ trở về, mặt khác những người Úc này cũng  tự giúp mình – như nhóm nghiên cứu cho biết - trở về với lương tâm bình yên, ra khỏi cuộc chiến vĩnh viễn, lọai bỏ những ám ảnh suốt mấy chục năm không nguôi.
     Trong những cuốn sách, phim chiến tranh do phương Tây thực hiện luôn thấy có những người lính băn khoăn ngay tại chiến trường rằng vì sao anh ta đến đây, nhiều người khác thể hiện một tâm trạng vỡ mộng khi đứng trước thực tế. Tâm trạng này có ở nhóm cựu binh Úc, ở nhiều cựu binh Mỹ trong chiến tranh VN và tất nhiên trong phim của họ làm ra thì không thiếu. Tâm trạng này không có trong các phim, sách viết về cuộc chiến vừa qua do người VN thực hiện, tôi tự hỏi mình có thể hoàn toàn hài lòng với lý giải điều khác biệt đó giữa những người lính của hai bên đã là một nhân tố kết thúc cuộc chiến như nó đã diễn ra? Tôi không tìm được câu lý giải làm mình thỏa mãn thật sự. 

 

* Thơ CTC: Chuyện tình con bé Tây lai




Cao Thoại Châu
Chuyện tình con bé Tây lai


Con bé ở bên Tây bên Mỹ
Xứ sở toàn những Mỹ và Tây
Tây đen Tây trắng một bầy
Tây đực Tây cái ngày ngày bi bô

Bên Tây đang lạnh giờ này
An Nam nóng đá phải bay lên Trời
Ra về để áo lại đây
Cho anh có chút gió Tây lạnh lùng!

Đất của Tây xem chừng có đủ
Cho bé lăng quăng những lúc cuối tuần?
Nước Tây cũng đủ cho bé tắm?
Và điện Tây đủ sáng đêm khuya?

Lâu lâu lại về thăm đất nước
Cầm tay anh xem mất hay còn
Lên rừng xem biển xuống nước trông non
Thử xem đất nước hao mòn chút chi

Còn tất cả, xin thưa với bé
Anh cũng còn phong độ riêng anh
Mấy cô tám vẫn tưng bừng
Tám cho sông cạn đá mòn mới phê

Riêng anh ở lại quê nhà
Sáng ra nhớ bé, ăn và trái cây
Trưa nhớ bé tô mì hai gói
Chiều làm thêm mấy gói mì tôm

Tuy nhiên anh rất hay buồn
Rất hay bực bội văn chương nát nhầu
Nhớ nhau không biết để đâu
Bọc trong tấm vải lâu lâu lại nhìn

Bé con rất mê ăn cây trái
Hành lý bé đi anh đẩy sút hai vai
Mỗi giờ bay một trái soài
Dăm trái măng cụt ăn hoài không no

Cách nhau mấy múi giờ xa nhỉ
Mong có ngày đi bộ về đây
Bơi qua hết biển Tây biển Mỹ
Thương đến đau lòng, anh đợi ở An Nam!
7-5-2012
  


Chủ nhật, ngày 06 tháng năm năm 2012

* Thơ CTC: Thơ Dần Thân Tỵ Hợi



Cao Thoại Châu
Thơ Dần Thân Tỵ Hợi

1.
Khi xưa em bé tẻo teo
Gặp em anh hẹn sẽ yêu sau này
Éo le là chuyện cuộc đời
Tang thương ngẫu lục biết nơi nào tìm

Tìm em như thể tìm chim
Chim bay bể Pháp anh tìm bể Tây
Bể Tây có cá kèo cá lóc
Bể Pháp có cây đước cây tràm
Làm nên cái lẩu thơm ngon
Ăn cho sức khỏe đặng còn tìm em

Tìm em đã tới hồi tuyệt vọng
May ông trời cho gặp em đây
Bây giờ lớn quá em ơi
Quá xinh quá đẹp biết ai sánh cùng

Tưởng đứt bóng lời xưa ước hẹn
Ai ngờ em còn nhớ như anh
Thế gian có một chuyện tình
Của đồng tác giả chúng mình em ơi!

2.
Ông từ trong núi đi ra
Đổ bao nhiêu máu mới là lên ngôi
Hán Cao tổ Lưu Bang ơi
Thịt luôn Hàn Tín để đời chê ông

3.
Tịch ơi, ta rất phục chàng
Trước sau chỉ có một nàng Ngu Cơ
Đêm tàn uống rượu ngâm thơ
Dẫu rằng đế nghiệp cơ đồ đã tan

Ngu Cơ là đại giai nhân
Trái tim chung thủy giang sơn sá gì
Lẽ đời tử biệt sinh ly
Một thiên tình sử khắc ghi trong lòng

4.
Khi xưa tôi đọc Nhất Linh
Tài hoa rất mực tài tình không hai
Cô Loan "người mẫu chân dài”
Nhưng “hàng hiệu” ấy thì tôi xin chào
Rằng thưa trong chuyện tình yêu
Phải to gan phải biết liều, cô ơi
5-5-2012