Thứ Năm, ngày 20 tháng 11 năm 2014

TẢN MẠN : Âm thanh Sài Gòn




ÂM THANH SÀI GÒN  
     Sài Gòn, không níu kéo hồn người về màu sắc và mùi dù đêm đêm đi giữa Sài Gòn như bơi trong sắc màu ngày càng hiện đại. Cái ấn tượng thật sâu ngay từ buổi ban đầu khi đến thành phố phương Nam rực nắng chói chang này là… tiếng động Sài Gòn
      Ra phố vào ban đêm khi lòng thanh thản một chút, ai không nghe tiếng mộc mạc kéo dài một cách đơn điệu hao hao tiếng trên sông nước của những gánh hàng rong. Trong thứ tiếng đó, độc đáo nhất, cả ngày lẫn đêm lang thang từ ngoài đường vào những con hẻm lên cả những tầng cao là tiếng mì gõ , một nét rất Sài Gòn.
     Ai đã từng sống ở khu con kinh lấp cạnh nghĩa địa đô thành hẳn không thể nào quên. Tinh mơ, khi thành phố còn ngủ, đã nghe tiếng gõ lóc cóc dòn dã trên đường CMT8 ngày nay. Xe thổ mộ hàng bông từ ngoại thành vào, gõ suốt con đường thật dài để ngừng trước cổng chợ Cầu Ông Lãnh mang màu xanh đến cho mọi bữa ăn đô thị. Xe thổ mộ nhanh chóng bị loại một khi Sài Gòn lớn lên, nhưng cái dư thanh của nó làm sao dứt trong lòng người những năm tháng cuối cùng trước khi nó đi vào quá khứ?
      Sài Gòn là hợp lưu của dân tứ xứ, hào phóng đón nhận mọi con người ưa phiêu lưu mạo hiểm có ý chí lập thân lập nghiệp và mọi người gặp nhau ở đây cũng nhanh chóng hòa vào nhau thành một cư dân ưa ma sát với nhiều cách tiếp cận và giữ ấn tượng về thành phố. Và mọi người nhanh chóng thấy cái độc đáo là mưa Sài Gòn, gần với tánh người Sài Gòn nhất. Bất ngờ ào đến, trẻ trung bặm trợn, ập xuống đè bẹp những âm thanh không phải là mưa, mưa tối trời đất không rả rích lê thê như mưa nhiều nơi khác, Huế chẳng hạn. Những cặp tình nhân Sài Gòn khỏi nôn nóng bồn chồn nơi điểm hẹn vì đang ầm ầm đó, bỗng ào một tiếng dài và nhẹ nhàng mưa cuốn đi lúc nào chẳng hay.
          Sài Gòn bây giờ là thành phố có một vùng xoáy âm thanh nhiều quốc tịch của hàng triệu chiếc xe máy  khiến người ta …không còn nhận ra nó nữa! Cũng bây giờ, khi Sài Gòn tràn đầy những công ty, cửa hàng, shop và những căn nhà hiện đại thì khi điện lưới quốc gia bị cúp, người ta có ngay điện …lưới nhà. Giữa trời trưa nắng lửa những chiếc máy điện để ngay vỉa hè thi nhau nổ rầm rầm chát chúa như chạy đua cùng bức tường âm thanh của xe máy, càng làm cho ấn tượng Sài Gòn thành phố của tiếng động trở nên rõ hơn!
       Trong dòng âm thanh cocktail ầm ào của Sài Gòn bỗng có thêm  tiếng ca Khánh Ly rề rà dài theo đường phố. Từng cặp những cô gái quê cũng áo bỏ trong thùng bảnh bao nhưng mộc mạc, cũng một chút son trên môi tạo ra một phong cách mới của công việc kiếm miếng cơm dù rằng trang điểm còn lún túng y nguyên nét thô kệch vùng quê mà là quê nghèo. Đấy là những chiếc xe đạp được chăm chút, có chiếc thùng nhỏ bằng formica phía sau, vừa đựng hàng vừa chứa cái cassette. Mỗi xe có hai cô thành một cặp dắt đi rong, thả tiếng nhạc lại phía sau, nhẹ nhàng không gắt chói.
    Con hẻm nhỏ cặp nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế là khu kẹo kéo. Nói vậy bởi ở đây có người chủ trung niên từ Quảng Ngãi vào mang theo nghề của quê hương. Anh ta sản xuất kẹo, trang bị xe và đồ nghề không quên chiếc cassette với nhạc mà theo anh “Phải nhạc Trịnh mà Khánh Ly hát mới là điệu nghệ”. Em cháu từ quên vào được cho ở trọ, cho mướn trọn bộ đồ nghề và kẹo, cứ việc sáng từng cặp đẩy xe đi, bán hết mang xe về trả tiền cho chủ và thảnh thơi hưởng phần lãi sau một ngày đi bộ.
      Một cô trạc 20 nói “ Em tính ra mỗi ký kẹo phải đi 6 cây số”, đường càng dài kẹo bán càng nhiều, ngày mưu sinh tính theo như thế. Một cô trong số ấy vốn là đứa bé thoát chết trong  cuộc tàn sát đẫm máu Sơn Mỹ năm nào, cho biết xe của cô chọn lộ trình Nhà thờ- Thủ Đức đi theo hướng cầu Bình Lợi, chiều từ Thủ Đức lộn về thành phố, len lỏi mấy chục khối nhà khu cư xá Thanh Đa. Nhờ chịu đi mà mỗi ngày bán được 10 kg với con đường nhẩm tính ra khoảng năm chục cây số. Một năm là hết trên dưới một vòng trái đất theo đường xích đạo! Trong cái ùng ục của Sài Sòn, tiếng nhạc Trịnh Công Sơn như ru giấc mộng kiếm tiền trở lại quê nhà bắt đầu cuộc sống của những cô gái miền Trung. 
      Tiếng động Sài Gòn mạnh mẽ, bộc trực như cái tánh người Sài Gòn và thành phố làm nên tính chất cư dân hay chính cái tính chất ấy làm nên một Sài Gòn? Bao giờ Sài Gòn là đô thị yên tĩnh? Không bao giờ và không thể nào, vì đất hẹp người đông lại là thành phố công thương nghiệp đa hình đa dạng, trẻ trung hiếu động thì cứ nên yêu lấy tiếng động ùng ục ấy thôi ! Mất nó là mất Sài Gòn!
     Bị mất tư cách người Sài Gòn, sống ở tỉnh lẻ, có lúc cảm thấy như bị quăng xuống giếng của sự tĩnh lặng. Nhiều lúc nhớ da diết, nhớ đắng cay âm thanh non trẻ nóng bỏng rộn rã đầy sức ma sát và tinh khiết của cuộc sống Sài Gòn một thời nuôi lớn lên, đưa vào đời rồi không chia tay mà vẫn xa thăm thẳm…

     

Thứ Ba, ngày 18 tháng 11 năm 2014

* TẢN MẠN CTC : Giáo dục nhìn từ những "cỗ máy cái "












GIÁO DỤC NHÌN TỪ NHỮNG “CỖ MÁY CÁI ”

      Gọi những trường sư phạm bằng cái tên “Cỗ máy cái’ là một cách gọi hình tượng và chính xác. Sản phẩm của “máy cái” là những người thầy và từ đó tôi luyện những thế hệ học sinh ra một con người. Trong nền giáo dục VN cho đến nay, nói cơ sở đào tạo thầy cô giáo là cỗ máy cái thì chính xác nhưng thực tế lại làm không chính xác khi vận hành “máy cái”. Vì thế sản phẩm có vấn đề.
     Một chút nhắc lại GD của VNCH. Thời ấy sư phạm là trường có thi tuyển, vào được sư phạm là một trong những ước mơ của nhiều hoc sinh và chỉ những thí sinh có học lực từ khá trở lên mới có cơ hội, Khác với thời đó, nay thi tuyển sư phạm giống như giăng một “mẻ lưới” gom cả những con cá chưa thực sự có thể dùng làm thực phẩm ! Những năm sau 1975 có hàng đợt cựu bộ đội được "tuyển" vào, quá rõ đây là sự chuyển ngành mang tính cơ cấu ! Và cho đến bây giờ vẫn còn hệ tại chức, đào tạo từ xa, liên kết và nhất là cử tuyển (đáng lẽ phải tuyển rồi mới cử). Một học sinh lớp 12 ấp úng và bẽn lẽn trả lời Thầy khi được hỏi lý do thi vào sư phạm là “Tại em học yếu”!
       Quả có như vậy, điểm trần trúng tuyển sư phạm không cao, điểm sàn lại quá thấp và có khi cứ hạ xuống cho …đạt chỉ tiêu! Lấy theo số lượng thay vì chất lượng ! Nghịch lý là trong khi SV sư phạm ra trường thất nghiệp thì chỉ tiêu tuyển sinh vẫn cao. Vì sao? Vì nếu không thì có nguy cơ trường sư phạm đóng cửa!  Nhiều trường sư phạm đang có cung vượt quá cầu, vậy sự vận hành của nó là không có sự tính toán khoa học và thực tế, phi kế hoạch. Sự tồn tại của những cỗ máy cái như hiện nay phản ảnh tình hình không ổn định, kém hiệu quả của nền giáo dục nói chung.
        Rất khó hiểu, cứ mỗi khi chương trình hay sách giáo khoa có thay đổi là y như lại có cuộc bồi dưỡng, tập huấn cho GV để họ nắm bắt được cái mới mà thực ra không có gì quá quan trọng. Bài học trong SGK đâu có gì cao siêu trong lúc các giáo viên đã được đào tạo bài bản thì việc bồi dưỡng này là một đáp án quá rõ về "công nghệ" đào tạo! Xin nhấn mạnh là "công nghệ" vì đội ngũ thầy cô ở cỗ máy cái nói chung là có trình độ cao tương ứng với nhiệm vụ của họ. Hòn đá không lớn nhưng người khiêng không nổi chỉ vì người quá yếu!
     Sau đầu vào là nội dung chương trình và phương pháp đào tạo tại các trường sư phạm ôm đồm và lạc hậu. Ở những môn xã hội, kiểu học thụ động thầy giảng sinh viên ghi và dường như ít có sinh viên bỏ công nghiên cứu, còn phổ biến. Người giáo viên tương lai ít được dẫn dắt theo phương pháp nghiên cứu, họ cố học những gì thầy giảng và vì vậy kiến thức khá mỏng. Một giáo sư người Pháp giảng dạy ở ĐHSP hồi những năm 1960, trước khi giảng bài luôn luôn kê một loạt sách liên hệ, yêu cầu SV về nhà đọc và làm tóm tắt nộp cho Thầy. Rất mệt nhưng kết quả rất bổ ích. Nhà trường thời ấy cũng không lệ thuộc chỉ tiêu lên lớp, tốt nghiệp, họ có quyền bắt lưu ban những sinh viên chưa đạt yêu cầu. 
    Và trong xã hội có biết bao người không bằng cấp nhưng có công trình nghiên cứu, đó là những học giả, sao lại không mời họ giảng dạy ? Một nhà thơ Đông Hồ, nhà văn Vũ Khắc Khoan, nhà chơi cổ ngoạn Vương Hồng Sển… lên bục giảng đại học thời trước, là những trường hợp nên tham khảo. Và còn điều "tế nhị" này không nên kéo dài lâu thêm nữa :  Chính trị hóa các môn học chừng nào là vừa, chừng nào quá tải để lại "dư lượng” ? Chính trị đứng vào chỗ của khoa học đến bao giờ ?
       Thật không hiểu nổi một cô giáo tốt nghiệp khoa văn chưa một lần đọc trọn truyện Kiều và viết bảng còn vô số lỗi chính tả, một thầy giáo khoa sử không biết quốc gia nào đó nằm ở đâu khi giảng về Chiến tranh thế giới thứ 2! Nhưng đó là có thật ! Cỗ máy cái đã để lọt những thứ phẩm ! Cái sàng gạo đã để lọt cả những sạn và thóc !
      Khác với các ngành luật, kiến trúc, kinh tế, kỹ thuật…ngành sư phạm không thế tách rời nhu cầu của ngành vì giáo viên ra trường quá ít có chỗ dạy tại các trường tư, họ không thể dùng vốn đã học để mưu sinh so với một kỹ sư hay luật sư. Học sinh khá giỏi quay lưng lại trường sư phạm vì họ nhìn thấy trước viễn cảnh khi tốt nghiệp. Vậy thì tuyển vào cho nhiều để tốt nghiệp là thất nghiệp, có phải mang con đi bỏ chợ ? Quy hoạch lại cỗ máy cái các mặt là điều cần làm thay vì cứ để cho nó chạy không tải như hiện nay.



Thứ Bảy, ngày 15 tháng 11 năm 2014

* TẢN MẠN : Chút mầm xanh buổi sáng





CHÚT MẦM XANH BUỔI SÁNG
Đã tìm thấy sự thú vị lúc gà vừa gáy. Các trang nhà giờ này còn im lìm say sưa, muốn rinh gì cũng…dễ: hình ảnh, cây hoa, những châm ngôn…và quên đi cái trơ trọi ngày một dày thêm, nặng hơn trong căn nhà cửa khóa then cài của mình. 
     Vào nhà nọ thấy có 3 cha con say sưa ngủ trong mùng, vắng người phụ nữ thấy cái tập thể này mới tội làm sao! Ngủ mùng là một mảng lớn của VN có tự bao đời, vừa chống muỗi vừa tạo sự mờ ảo như ru giấc ngủ trong một thế giói khác. Cái mùng là cái không muốn nó đi vào quá nhứ nhất. “Màn buông xuống không ngăn sầu vũ trụ” (Huy Cận) thì nằm không mùng có cảm giác thành một chiến binh phơi thây nơi chiến địa vào một đêm trăng ! Mỗi khi ngủ ở khách sạn cứ có cảm tưởng như miếng thịt phơi ngoài sạp chợ, trơ trẽn vô cùng.
   Sáng nay rinh được hai tấm ảnh của nhà Thuy nguyen trên facebook. Cô cán bộ cử nhân văn chương thứ thiệt ở Tân An này gọi tôi là thầy dù chẳng học tôi một chữ, em còn nhỏ mà “tinh xảo” lắm, nối được cái đẹp thiên nhiên quanh nhà mình, quanh xóm làng mình vào với người . Không yêu hay không có để mà yêu, cái vườn nhà mình thì nói chi yêu cái nước ? 
     Tôi rinh được một nốt ruồi duyên, một má lúm đồng tiền, cả hai đều màu xanh! Xúc động rưng rưng, ảnh gợi cảm xúc, gợi suy nghĩ thay vì chỉ là cảnh trong một cuộc đi xa, một cuộc tụ tập, ăn uống nói cười nhiêu khi rất kịch và nhạt nhẽo đến vô duyên…


Thứ Hai, ngày 10 tháng 11 năm 2014

* TẢN MẠN : Những bất an quanh tôi

Một bác sĩ đang khám bệnh bằng..."ống nghe"
Người phụ nữ này đang đu dây qua sông. Từ lâu nay
 người dân xã Hoa Lễ tỉnh Đăk Lăk phải qua sông kiểu bất an này !

NHỮNG BẤT AN QUANH TÔI
    
    
   Mỗi sáng ra đường và nhất là mỗi khi lên Sài Gòn tôi đều thở ra khi đến nơi phải đến. Tai nạn giao thông ngày nào cũng có, do xe cộ phóng bạt mạng, xe to mất thắng, xe tải chở quá 200= 300 %. cần cẩu từ trên cao hay cây lớn đổ xuống đường phố lấy đi mạng sống nhiều người, cháy nổ…là những nguy cơ mà chỉ có cái số mới mong thoát được. Văn hóa đi đường còn là thứ  Văn hóa xe thổ mộ!
     Kinh khủng thay chuyện nhân bản xét nghiệm hàng ngàn người, kết quả xét nghiệm của người này gán cho người kia, có bệnh thành không và ngược lại, nam thanh niên thành có bệnh phụ khoa ! Trẻ em có nhiềuđứa chết vì chích ngừa nhầm phải thuốc độc tố, mới đây nhất 60 trẻ chích ngừa bệnh sởi bằng…nước cất do nhân viên y tế lầm! Tôi có mấy đứa cháu thuộc diệnphải chích ngừa, làm sao không hồi hộp lo âu khi đưa chúng đi chích ? Ở BV da liễu lớn nọ, bệnh nhân lấy số và phải ghi tên, ghi bệnh và nộp. Khi gọi, giữa đám đông cô y tá cứ oang oang cái miệng “ Số 13 ngứa kẽ chân đâu ?”, “ Số 20 thối tai đâu?”. Sinh mạng và thể diện bị bêu riếu!
     Nơm nớp không biết trong người  có bao nhiêu hóa chất đang gây hại cho mình. Gạo, thịt cá, rau, bánh, trái cây…khi là thứ chảy nhớt bốc mùi, khi còn dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, thuốc bảo quản, khi được chiên xào bằng dầu thải lấy từ…cống cạnh nhà hàng lên. Bất an và rất bất an, hiểu vì sao bệnh ung thư hiện nay tràn lan so với trước kia.
Chuyện (vợ chồng, cha con, anh em, bạn bè…) giết nhau thật ra không lạ, nhưng họ giết xong chặt khúc ra nhiều mảnh thể hiện sự độc ác thú tính mới thật sự là bất an bởi xã hội đang thiếu Mẫu số chung là tình người. Thiếu mẫu số chung này, các phân số làm sao cộng lại được?
    Nhỏ hơn giết chóc là Lòng tin các loại bị nứt rạn, sói mòn, mất đi…Chẳng còn ai dám tin ai khi mua nhà, xe, đất vì bị lừa gạt là chuyện quá thường! Mấy ai còn tin công chức không làm khó dân, không vòi vĩnh dân ? Quan tòa ăn tiền xử oan, thả ẩu, thầy giáo đổi điểm lấy tình là những nhát chém vào lòng tin của người ta. Những thứ cao cả nhất đang bị lộn nhào, lấm lem, mai một, bảo sao không bất an ?

    Bất an nhưng tôi vẫn sống thì quả thật phải cám ơn mẹ sinh ra tôi, cho tôi một số mạng có khả năng thoát nguy cơ cao !

Thứ Bảy, ngày 08 tháng 11 năm 2014

Thơ CTC : Hình ảnh châm ngôn


Cao Thoại Châu
HÌNH ẢNH CHÂM NGÔN
*
Tôi đi tìm bóng mình
Ngày giáng sinh mưa phùn gió bấc
Truyền thuyết kể, người đàn bà cũng khóc
Đêm không đèn lệ đẫm thay sương

Lên dốc đồi tôi ngại vầng mây
Ngập ngừng trôi hình như đứng đợi
Điều có thể khiến rơi xuống đất
Hai tay không còn chút vui nào

Trên đỉnh đồi ngại những vì sao
Thảo nguyên xanh lạc bước chân cừu
Đêm sắp xuống mẹ không tới đón
Con cừu buồn rũ dưới mưa đông

Ai cũng cần một hình ảnh châm ngôn
Em chọn tôi
Con cá nhảy lên bờ
Cỏ xanh bốn mùa có tuyết ?
8-11-2014


Thứ Hai, ngày 03 tháng 11 năm 2014

CTC :Hoa trắng "thôi' cài trên áo tím











HOA TRẮNG "THÔI" CÀI TRÊN ÁO TÍM
Năm 1963 ra trường dạy ở Châu Đốc, chiều chiều tôi hay đi dạo và thế nào cũng ghé một tiệm sách. Một lần phát hiện những miếng bìa khá đẹp gấp lại kiểu thiệp đám cưới, chiều ngang vừa lòng bàn tay có in những bài thơ. Lần đầu tiên tôi thấy một kiểu ấn hành thơ như thế và cũng là lần thứ nhất tôi đọc cái tên “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Bài thơ lãng mạn thuộc loại kể chuyện. Một chuyện tình (thời chống Pháp), mô típ rất Nam bộ, tròn trịa, lâm ly, có hậu. Một người đi chinh chiến, một người đi lấy chồng. Và cuối cùng (thế nào thì) cũng có bông hoa trắng cài trên nắp áo quan của người chiến sĩ và cả trong trái tim người còn lại mà theo tôi là mãi mãi…Buồn nhưng không quằn quại đau đớn bi lụy...
     Lần đầu tôi biết đến nhà thơ Kiên Giang đơn giản như thế và thật sự cũng dừng lại ở đó. Thời gian sau đấy có đi xa hơn vào thơ Kiên Giang nhưng không đi sâu hơn, có thể vì cảm xúc trong thơ ông không nằm trong những ẩn dụ, nó có sẵn trong câu chuyện kể. Mỗi người yêu thi ca dường như nhận lấy một cơ duyên và một “tín ngưỡng văn chương”. Nào có khác một người yêu một người cũng là cơ duyên và “tín ngưỡng” về người ấy. Hai thứ tình yêu này hóa ra rất bền vững dù có khi rất éo le trắc trở, bất khả nhưng một khi đã “bậm” vào rồi thì không nói chi khác được ngoài sự say mê có khi rất âm thầm lặng lẽ.
     Lúc năm 1963 ấy tôi ngoài hai mươi và đang có những bận tâm khác trông cậy ở thi ca : thân phận con người và một cuộc chiến tranh khác vừa bùng lên. Kiên Giang không tham dự cuộc chiến mới, ông ở ngoài dòng văn chương thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai mang đậm tính hiện sinh đang từ nước ngoài tràn vào miền Nam ồ ạt và xông thẳng vào một số tạp chí vừa mới ra đời sau đất nước bị chia cắt năm 1954, xông vào các nhà xuất bản, các giảng đường như một luồng gió mới được đón nhận.
    Tôi biết một cách không chi tiết lắm, thời điểm đó nhà thơ Kiên Giang quay sang viết báo, viết kịch bản cải lương, phụ trách trang sân khấu trên một số tờ nhật báo. Và ông vẫn làm thơ theo mô típ kể chuyện phù hợp với đại chúng nhưng được đón nhận một cách trân trọng của độc giả. Tuy nhiên sự thành công của ông với bút danh Hà Huy Hà thuộc lãnh vực sân khấu có lẽ âm vang lớn hơn. Những người làm thơ và cả độc giả lớp sau có lối đi mới, thị hiếu và nhu cầu mới nhưng họ kính trọng tài năng thi ca của những người như Kiên Giang.
    Tôi nghĩ, có một điểm tương đồng hơi gượng ép giữa Kiên Giang với Nhất Linh, Nguyễn Bính…Khác chăng là Nhất Linh tượng trưng cho một khuynh hướng văn chương lớn và nó “tan hàng” tại miền Nam sau năm 1954, còn Kiên Giang là một tâm hồn thi ca lồng trong một giai đoạn lịch sử. Cũng khác là thơ Nguyễn Bính có sức “quét” một khung trời rộng từ Bắc vào Nam qua nhiều hoàn cảnh và thời gian. Sức lan tỏa của thơ Nguyễn Bính gần như mênh mông để tác giả “Lỡ bước sang ngang” không ở lại sân ga mà bước lên con tàu trong cuộc hành trình mới cùng những con người mới. Cũng phải nói, tác giả “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” không có cái cơ duyên của một Quang Dũng, nhưng biết nói sao khi đã gọi là cơ duyên thì nào mấy ai giống với ai ?
       Không có cơ duyên gặp nhà thơ Kiên Giang ngoài đời, chỉ đọc và yêu mến thơ ông như một dòng sông hiền hòa giữa một đồng bằng bình yên và cần đến con sông ấy. Cuộc binh đao khói lửa ở miền Nam cuốn tôi vào dòng thơ thời chiến nóng bỏng hơn thiết thân hơn. Cho mãi đến khoảng năm 2008 gì đó, tôi mới được diện kiến với ông qua ba người bạn thơ ở Tân An mà các anh ấy cho biết mình là học trò của Kiên Giang và đang chuẩn bị lễ mừng thọ ông.
       Lúc ấy, nhà thơ khoẻ mạnh lắm, rất minh mẫn, hoạt bát, bình dị và thật dễ mến dễ gần. Ông tỏ ra có đọc thơ của lớp đi sau mặc dù họ thuộc một dòng thơ có nguồn cảm xúc khác với ông. Cả trước và sau 1975, “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” không lạc lõng, bởi vì nghĩ cho thấu đáo và trung thực thì vẫn không ra ngoài vấn đề muôn thuở của con người là tình yêu. Thơ Kiên Giang đứng được nhờ đó và cũng vì thế thơ ông không bị độc giả quay lưng.
    Qua ba anh bạn làm thơ nói trên, tôi biết thêm Kiên Giang trong đời thường nhiều hơn và mến ông hơn với một sự thương cảm nào đó bởi hóa ra đời ông cũng lắm gập ghềnh khúc khuỷu. Và nói đúng ra thì với tôi, đã có sự “thống nhất” giữa “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” với cuộc đời của tác giả của nó.…Khi nhận ra điều này tôi có ý tự trách cái tính tự cô lập mình khỏi những sinh hoạt văn nghệ trong bao lâu, và tôi đã nhận ra mình vẫn yêu mến thơ ông sau những thăng trầm của mình, của một thời đại thơ ca và nhất là của Kiên Giang, nhà thơ!
Tân An 1-11-2014


Thứ Hai, ngày 27 tháng 10 năm 2014

* TẢN MẠN : Tính rất bờm của người nước tôi












TÍNH RẤT BỜM CỦA NGƯỜI NƯỚC TÔI

     
      Theo truyền thuyết, tổ tiên chúng tôi từ cùng một cái bọc nở ra  trăm con, vì thế ngôn ngữ VN có ngay chữ “đồng bào” mà tôi dám chắc không mấy ngôn ngữ nào có được một từ ý nhị mà nhân văn đến thế để chỉ liên hệ nguồn gốc của chúng tôi. Tuy từ 100 đến 90 triệu như ngày nay nhưng đồng bào tôi vẫn có chảy trong mạch máu một tính cách hồn nhiên, thật thà, phần nào đó đáng yêu, về cơ bản. Cái sự đáng yêu đó của đồng bào tôi thể hiện ra thành một nhân vật dân gian là Thằng Bờm,một cách gọi thân thiết ưu ái bình dân dành cho người còn nhỏ, không xách mé tí nào. 
      Thế rồi, cát bụi gió mưa cuộc đời thêm vào tính hay bắt chước, phô trương, chuộng danh hơn thực vv và vv. Bờm" hiện đại" có phần đã bị biến chất như bao ông lớn có thành tích trong quá khứ rồi bị tiền và gái gú đánh cho biến chất thành rác rưởi đáng khinh! Sau mấy ngàn năm, nói một cách thật biện chứng, dựa vào của cải, chức tước…đã có những thằng Bờm, ông Bờm, đại gia Bờm, ngày nay còn có thầy Bờm, học giả & khoa bàng Bờm, và… đồng chí  Bờm!
       Anh Bờm nguyên gốc, chất phác và hơi bị ngố nên mới tưởng cái quạt mo là một vật gì có giá trị cứu người ta khỏi cơn nóng bức ngột ngạt. Nhưng đã đánh giá cao như thế mà ba bò chín trâu lại không đổi, bè gỗ lim cũng từ chối, để cuối cùng lấy…nắm xôi! Bờm!
     Mỗi ngày tôi đọc vài tờ báo. Bữa có tiền thì mua 3 tờ, gặp khi chỉ còn “cái quạt mo” thì ghé sạp báo của người phụ nữ không phải “bè gỗ lim” nói vài câu êm ả khen trời khen đất khen không khí trong lành khen phụ nữ ta nhất thế giới, và thế là…coi báo cọp thoải mái! Xin lỗi các báo, nhưng suy cho cùng chỉ cần vài lời nói ngọt, một cái nhìn êm ả mà được coi bao nhiêu là báo thì đây lại là đổi chiếc quạt mo lấy bè gỗ lim đó! Khôn vặt, Bờm!
       Người nước tôi có tính hay bắt chước cả những cái lố lăng. Thời còn nhỏ tôi chỉ nghe có các anh Elvis Phương, Jo Marcel hay hát nhạc ngoại nên có nghệ danh như vậy. Còn bây giờ, trong thị trường giải trí, thấy tính sôi đậu lai căng trong ngôn ngữ VN mà chẳng hiểu vì sao lại phải…Tây đến như thế ? Bờm!
      Nhưng không chỉ trong hát hò mới vậy, có một cô người mẫu mà báo chí gọi là “Bà Tưng” do cái tính hay phát ngôn rất tưng, một hôm nổi hứng tuyên bố đại ý hạnh phúc không có tiền thì cạp đất mà ăn à? Lời sỗ sàng, ý dung tục ấy vậy mà Sở GD-ĐT một thành phố lớn nọ lấy ngay câu ấy làm …đề thi học sinh giỏi Văn và tự ca là lối ra đề mở! Người ra đề là một “Bà Tửng” bị kỷ luật đã đành nhưng còn cả bộ tư lệnh ngành kia chẳng lẽ mắc tính bờm nặng? Bộp chộp, bờm!
    Tôi là một anh Bờm tỉnh nhỏ, có ra vào BV một số lần đáng kể trong hai năm nay nhưng thú thật chưa hề nghe ai nói như thiên hạ nói ở các BV lớn khác. Rằng ở các nơi đó, muốn được việc phải bôi trơn, thậm chí chích thuốc mà không dúi phong bì sẽ bị phóng cho một cái nhảy dựng lên! Lãnh đạo ngành đưa ra giải pháp hay ho (cảm cúm) rằng người bệnh nên giúp BV phát hiện tiêu cực bằng cách mang theo máy ảnh chộp liền những anh áo trắng vòi vĩnh! Thật hài hước, bờm!
      "Bờm" vào cả trường học. Thích phô trương, người ta đặt danh hiệu "Trường đạt chuẩn văn hóa" để phấn đấu, hóa ra những trường chưa đạt là loại trường...thiếu văn hóa! Bờm! 
       Một hiệu trưởng trường cấp 3 đổi điểm lấy tình của một nữ sinh, đem cái mặt mo ép lấy năm xôi. Tệ hơn, sau đó thầy bờm biến nữ sinh này thành Tú bà chuyên dẫn gái là học sinh cho “thằng”. Ra tòa, cô bé bị án tù về tội môi giới mại dâm (!?) còn tên giáo gian đứng trước tòa kể lể thành tích cống hiến cho sự nghiệp bao nhiêu năm và còn “tháu cáy” đòi tụt quần chứng minh cho Bao Công rằng “bờm nhỏ” không thể làm chuyện ấy! Khiếm nhã thế làm sao tòa cho phép! Cuối cùng thì Bờm xơm  vào tù với tội danh khác mà lẽ ra phải là tội phá hại đời con gái, tội phá hoại luân thường đạo lý. Nhưng đồng chí Bờm này chắc có cái để lý sự cùn với con cái, bè bạn về “công cụ gây tội ác” của ta nó đã quá bèo nhưng tòa không cho kiểm tra nên nỗi oan Thị Mầu này chỉ có…vợ đồng chí thằng Bờm biết! Bờm mạt hạng!
     Chúng ta vẫn dạy bài ca dao “Thằng Bờm có cái quạt mo…”, đó là Bờm nguyên chất hồn nhiên, không vì “lợi ích nhóm” mà đổi lấy những thứ chỉ nghe là biết lừa đảo. Bờm biết…ngố để mang lại cho mọi người nụ cười thoải mái  thay vì xốc nổi làm trò cười cho phú ông! Từ dân mà ra, nhờ dân mà sống, lấy dân làm gốc...đó là thằng Bờm của cha ông ngàn xưa để lại! Phần tôi, tức người viết, ước mơ được là Bờm, thi sĩ Bờm!


* Thơ CTC : Thơ viết trên xe đi Gò Công










Cao Thoại Châu
THƠ VIẾT TRÊN XE ĐI GÒ CÔNG
  
Mỗi tinh mơ
Tiếng gà rơi vào hồn tôi
Những mũi tên bắn ra tua tủa
Không binh đao mà có người gục ngã
Nhức nhối niềm đau kẻ thiếu quê nhà

Em rơi vào tôi
Phút nào lơ đãng
Và giấy trắng
Phút nào thành nghĩa trang
Thơ tôi cần một cõi vĩnh hằng

Những vần thơ mồ côi
Sống thế vai người
Khói hương trà buổi sáng
Tiếng chim
Cuốn tôi đi một dòng thác lũ

Tôi rơi xuống đời
Giọt mưa hoang rơi vào đống lửa
Tuổi thơ tôi cũng từng rơi nước mắt
Đứa trẻ làm mất món đồ chơi…
Gò Công 26-10-2014


Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

* Nguyễn Thị Liên Tâm : Ngựa hồng, một đời rong ruổi


 NGỰA HỒNG, MỘT ĐỜI RONG RUỔI
    
* Nguyễn Thị Liên Tâm
   
       Một đời yêu thương, khắc khoải…nhưng chừng như cô đơn cùng cực. …Một đời nhớ nhớ, mong mong, nhạy cảm với những điều bắt gặp trong đời… và nghe nỗi buồn cứ như thường trực trong lòng. Một đời giang hồ phiêu bạt cùng  bạn bè tâm giao khắp chốn, khắp nơi. Một đời lấy thơ văn làm lẽ sống trong cõi làm người…
    Hình ảnh ngoài đời, trong thơ, sao cứ nhẹ cái chất lãng du, mà nặng cái chất cô độc, suy tưởng, khiến người mới quen biết anh - nhà thơ Cao Thoại Châu - không bao lâu, như tôi, đã có thể phác thảo vài nét về anh:
                 Ngựa hồng đã mỏi vó chưa?
                Mà nghe lóc cóc sớm trưa… đường trần.
    Thi sĩ họ Cao tuổi con mèo (Kỷ mẹo 1939), đến nay đã rong ruổi hơn 70 năm trong cõi thế gian. Anh thích làm thơ, viết văn, viết phê bình, và đã thực hiện những điều ấy như một thú tiêu dao có nghề.….Chỉ tính riêng thơ, tới nay, gần 50 năm gắn bó với văn chương, anh đã cho in được 4 tập (Bản thảo một đời, NXB Long An 1992, Rạng đông một ngày vô định NXB Văn Nghệ TP HCM 2007, Ngựa hồng - NXB Thanh Niên 2009 , Mời em uống rượu - NXB Hội Nhà Văn). Mỗi tập có một dấu ấn riêng cho từng giai đoạn của một đời người (ngoại trừ những bài anh yêu thích và in lại trong nhiều tập…như Để nhớ lúc Trâm xa).
     Thời tuổi trẻ, thơ với anh, là “Bản thảo một đời” (tên tập thơ đầu tay). Một đời thi ca. Một đời gió bụi. Phải chăng là thế, nên, suốt một đời anh cứ chỉnh sửa mãi không thôi. Để rồi, từ thầy giáo đến người cầm súng tham gia vào cuộc chiến,  thi sĩ xứ Tân An gốc Nam Định cứ phải đau đáu với những đêm buồn vô hạn, với những cuộc tình chia xa, với những dòng sông bên bồi bên lở, với những phút trầm tư khi rong chơi trên yên “Ngựa hồng”, với những rung động ban sơ “Rạng đông một ngày vô định”, và lúc tâm quay cuồng “Mời em uống rượu” cùng anh.
      Cao Thoại Châu đến với thơ như duyên phận trời định. Cái duyên thơ không phải ai cũng được trời thương mà ban tặng. Nên anh đã chắt chiu từng chi tiết trong cuộc sống bộn bề, rồi sau đó, lao tâm khổ tứ chọn lọc ngôn từ để thay mình lên tiếng nói yêu thương. Bởi trót đa mang với những phận người, phận mình, phận đời… hay bởi cái tâm cái tình của anh quá rộng rãi, mênh mang? Câu hỏi ấy sẽ có lời đáp khi ta đọc những tác phẩm thơ ca của anh.  Đa phần, đó là những bài thơ giàu cảm xúc, giàu hình tượng, nhạc reo trong thơ…được đông đảo người yêu thơ đón nhận khi xuất hiện trên Nghệ Thuật, Văn, Khởi Hành…vào  những thập kỉ 60. 70 thế kỉ XX.
     Đọc qua bốn tập thơ hay, sẽ thấy nhiều điều cần nói. Đó là: giọng thơ anh có điệu riêng “u uẩn”. Cứ đọc và sẽ cảm. Thơ anh đi vào tim người “nhẹ như không”. Chính là vì cái cách chọn và sử dụng ngôn từ diễn tả nhẹ như không ấy của anh. Nhưng khi thơ Cao Thoại Châu đã nhẹ nhàng đi vào tim người đọc, thì lúc ấy, ý và tứ thơ bật lên sức mạnh ghê gớm làm xao động lòng người… Điệu thơ buồn, điệu thơ kiêu hùng lang bạt, ngôn ngữ sáng tạo khi diễn tả ý thơ mới lạ…  lại làm cho người ta yêu, người ta say, người ta nhớ, người ta ngất ngưởng đắm chìm. Ít ra thì nhiều bài thơ của Cao Thoại Châu đã đạt được điều đó.
       Ngay từ buổi đầu nhập cuộc với văn chương, Cao Thoại Châu đã tạo cho mình một phong cách riêng. Thử hỏi, có nhà thơ nào viết về nỗi buồn thân phận nhiều như Cao Thoại Châu? Có nhà thơ nào gửi vào văn chương nhiều hình ảnh về Ngựa đến thế, như Cao Thoại Châu?
     Con ngựa hồng ngày nọ đã từng tung vó mù trời. Nhưng thời gian ra đi là ra đi mãi mãi. Xa rồi một vòng tay ngày thơ trẻ. Và trải qua bao tháng ngày lận đận, có lúc ngựa hồng cũng phải mỏi gối, chồn chân…
- Lại thức sớm theo người đi lễ sớm/ Ngọn đèn nhà Chúa thật cô đơn/ Nhớ da diết… tiếng xe thổ mộ/ Đêm đã buồn lóc cóc lại buồn hơn (Đêm ngủ bụi ở nhà thờ Đức Bà- Trích tập RĐMNVĐ)
- Thảng thốt nghe tiếng ghềnh thác đổ/ Chắt cơn buồn trên lưng ngựa hoang (Ngựa hồng- Trích RĐMNVĐ)
- Đời buồn tênh sao người không đi ngựa/Cho tôi nghe lóc cóc trên đường? ( Để nhớ lúc Trâm xa- BTMĐ)
- Vừa chấm bài vừa hát lý ngựa ô/ Giọng phu nhân khác gì ca sĩ / Hai mươi năm nàng lìa xa đất Huế/ Bắt ta làm con ngựa lý trăm năm… (Lý ngựa ô- BTMĐ)
- Trăng thiếu phụ muôn đời trăng khuyết/ Ngựa chàng về còn chiếc yên không. (Đọc lại thơ Đường- BTMĐ).
     Thế đó, yên ngựa buồn tênh, đời người buồn tênh… khi chứng kiến những cuộc chia ly: với quê hương chôn nhau cắt rốn, với nơi trú ngụ dài lâu, với bạn, với người yêu, với con, với vợ, với một địa danh đã ghé thăm, với con thuyền, bến sông, với những con đường, với buổi sáng mơ, với đêm trăng mơ mộng, với những nhà thơ nổi tiếng của đất nước.
     Đọc thơ anh, không thể không buồn, vì nhiều bài rất buồn, buồn lắm. Đọc rồi ngấm vào lòng, vận vào lòng. Rồi vẩn vơ thương nhớ dùm cho nhân vật trong thơ- nhân vật ngoài đời- nhân vật tác giả… Suốt một phần đời lơ ngơ trong thời cuộc đảo điên nên anh cứ buồn như một định mệnh. Buồn sáng, buồn trưa, buồn chiều, buồn tối…
* Sáng
Tôi xa người vào lúc sớm mai/ Người phu quét đường đang đốt lá cây /Vài ngọn khói bay lên mệt lả/ Buồn buồn như ngọn gió heo may
* Chiều
Nhìn hoàng hôn bỗng thèm nỗi chết/ Của một ngày vừa mới đi qua/ Bây giờ tôi buồn và sống/ Như khói thuốc yếu dần/ Không còn gì hy vọng/ Không còn gì đớn đau…
* Đêm
Đêm đã xuống rồi phải không em/ Xin lấy ngón tay làm que diêm/ Biết đâu không thành ánh sáng/ Kìa tim anh cháy như ngọn nến…Đêm xuống rồi và che khuất/ Đồi núi run trong giá lạnh/ Dáng bơ vơ như một kẻ thất tình/ Xin bôi xóa đời anh/ Đêm ơi đêm ơi buồn muốn khóc…
     Sơ sinh vừa lọt lòng mẹ đã có nụ cười buồn, lớn lên lại cũng đa mang với cái sầu bi… Gắn bó với cái nghề dạy học, với trẻ hồn nhiên, thơ ngây trong sáng, anh cũng nhìn thấy cái buồn đeo bám, đi lính cũng buồn cho thân phận của con người trong cuộc chiến tranh.
·   Này là nỗi buồn thơ ấu:
- Đâm vào mặt chiếc nôi thời nhỏ dại/ Ta đã nằm và cười
Nụ cười ta sơ sinh đã buồn/ Thôi cũng đành thả trôi theo gió…
·   * Này là nỗi buồn của người cầm phấn:
- Thích tự do ta bị đời khép vào khuôn mẫu/ sống theo thời khóa biểu đã chia cho…Thánh hiền mặt mũi cô đơn/ buồn không khác những người dạy học (trích Bài giảng khai trường)
- Rồi một đêm Thầy khoác áo ra đường/ Với nỗi sầu với phẫn nộ như điên…
     * Này là nỗi sầu của người cầm súng:
-Thung lũng hồn tôi nhiều khói quá/ Để mắt tôi buồn như tháng đông/Để em đứng ngẩn trong trời tối/ Nghe động dơi về đôi cánh nghiêng (1968)
     * Còn đây,  nỗi sầu của người phải chia xa:
-Tôi tiễn người để biết kẻ đi xa/ Đã mang theo hồn người ở lại/ Sao người không đi bằng sân ga/ Có ánh đèn cho mắt tôi vàng úa/ Đời buồn tênh sao người không đi ngựa/ Cho tôi nghe lóc cóc trên đường/ Sao người không đi bằng xe đò/ Có bụi khói ướt giùm đôi mắt (Để nhớ lúc Trâm xa)
     Thơ thế sự - chiếm phần lớn, là sự đồng cảm, chia sẻ nên đã nặng nỗi u buồn. Riêng mảng thơ tình Cao Thoại Châu, ý thơ, điệu thơ luôn mang mang mối sầu thiên cổ. Một nỗi đau buồn không thể gọi tên. Như bài thơ Để nhớ lúc Trâm xa  ra đời vào khoảng năm 1969 nơi núi rừng Pleiku mù sương có thể xem là bức tranh đẹp trong gia tài thơ tình của anh. Nhiều người thích, nhiều người mê, nhiều người ngâm ngợi…rồi buồn cùng với cuộc tình như vừa mới …chia xa; rồi buồn với tác giả. Bởi bài thơ đã diễn tả tận cùng nỗi buồn ly biệt, là em xa anh, là anh xa em, là ta xa nhau…là ta phải đưa tiễn nhau:
Sao người không đi bằng xe đò?...
… Sao người không đi bằng sân ga?...
Hình như tôi vừa tiễn một người
    Có điều gì mất đi trong tôi… (Để nhớ lúc Trâm xa)
     Những câu hỏi của cả một đời, của cả một thế hệ trẻ trai trong thời chinh chiến. Và rồi, những trách móc, những tủi hờn, những trăn trở đằm sâu vẫn cứ phải bật ra, dù rằng không thể nào đổi khác:
Tôi là núi sao người bỏ núi
Tôi là thuyền sao người không qua sông
Tôi là cầu sao người không qua thử
Cho tôi nhìn bóng nước rung rinh
Cho tôi nhìn tôi hốc hác điêu tàn
Cho tôi khóc và tôi nghe tiếng khóc…
(Để nhớ lúc Trâm xa)
Nỗi cô đơn vây kín anh, lây sang những bè bạn yêu thơ anh. Cô đơn, bất lực trước nhân tình thế thái, trước thời cuộc…là nỗi niềm chung của tha nhân. Nhưng anh lại là gien trội…Bởi anh từng sống trong thời chiến, nên nỗi buồn ấy theo đuổi anh đằng đẵng đến tận bây giờ, dù chiến tranh đã qua đi trên một phần ba thế kỷ.
Rồi một đêm thầy khoác áo ra đường
Với nỗi sầu với phẫn nộ như điên…
(Chỗ ngồi của nhà giáo thời chiến)
     Và nào có giận hờn chi đâu cuộc sống, nhưng với anh, đời sống buồn quá. Cảm giác sợ bị “bỏ rơi” xuất hiện trong anh từ lúc nào không rõ, nhưng cứ như thường trực trong anh:
                ta đâu có giận hờn chi cuộc sống
               dù thật tình buồn lắm phải không em?
                                                  (Mời em uống rượu)
     Những ám ảnh chiến tranh bám riết theo anh. Khi làm thầy dạy học, khi tham gia vào cuộc chiến phi nghĩa “nồi da xáo thịt”, khi trở lại làm thầy, khi ngao du khắp chốn để đến với bạn bè…Và ngay cả thời khắc hạnh phúc đón  nhận  “báu vật đầu đời”:
               Con sinh ra tám giờ đêm tỉnh lẻ
               Đời âm u cũng tựa như đèn
               Gió lên đầy hai dãy hành lang
               Cũng tối ám như lòng của bố…
                                           (Tặng vật đầu đời)
     Tôi đến với thơ thuộc lớp người sinh sau đẻ muộn so với anh. Nhưng so sánh để làm gì khi ta có thể phần nào cảm được cái tâm của người thơ. Tố Như đã tự hỏi: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” (…Nguyễn Du), cũng chỉ là cách hỏi để tự mình trả lời đó sao?  
    Nói như Hoàng Trần: “Anh làm thơ “để nói cho mình nghe những khát thèm bất lực”. Anh bất lực trước nỗi đau đời mà thơ không thể chuyển tải rốt ráo dùm anh. Bởi thế nên anh  “nổi điên giận dữ”.
Anh cô đơn và anh thấy mình “vô dụng” giữa “tang thương”:
Tôi là chiếc xe bò đã cũ
Đường gập ghềnh tôi chở tôi đi
Đường gập ghềnh tôi chở tôi về
Trên một chiếc xe bò đã cũ.
(Cám ơn, và xin lỗi một người)
    Và những câu thơ chọn ra trên đây chỉ là minh chứng một góc thu nhỏ về gia tài thơ ca của hồn thơ khắc khoải Cao Thoại Châu mà thôi. Hãy đến với thơ anh, hãy đọc và cảm …như tôi, các bạn và những người yêu thơ anh, một hồn thơ đã khẳng định tên tuổi từ mấy mươi năm về trước…
    Bây giờ, những ngày vui cùng con cháu, bạn bè văn chương… không biết nhà thơ đã hết buồn chưa? Mà chắc chi đã hết buồn khi cái buồn đã vận vào mình, như kiếp Kiều lưu lạc, phải một đời sống trong nỗi cô đơn…Chỉ mong rằng, thi sĩ sẽ có những dòng thơ mang tâm trạng an vui hơn trong những ngày thanh nhàn trong cõi tạm này. Dẫu biết rằng, thường tình, nỗi cô đơn là sầu cố hữu…trong lòng các thi nhân...
                      Bên dòng Cà Ty những ngày tháng Mười- 2014                                                                                                                NTLT
                                                                                                                                          

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

* Thơ CTC : Cội nguồn tôi có tự hôm nay










Cao Thoại Châu
CỘI NGUỒN TÔI CÓ TỰ HÔM NAY


Có một ngày để gọi… hôm nay
Tôi không muốn mình là trang cổ tích
Ngày mẹ sinh trái tim phiêu bạt
Ngày em nhận ra tôi 
Vậy mà tôi quên mất
Tình yêu không cất trong tờ lịch
Thì mỏng dày không đếm bao nhiêu

Tôi là mây bay lạc trong chiều
Như kẻ tha hương đi tìm nguồn cội
Tôi sợ nếu vô tình em hỏi
Con suối ra sông từ ghềnh đá phương nào

Chẳng nơi nào thừa nhận tôi đâu
Ai chịu nhận hơi men ly rượu nhạt
Ai là áo ngự hàn ngăn gió bấc
Đương cự với mùa lạnh xé tâm can ?

Chiều tôi về
Một chút bình an
Đá viên sỏi 
Bằng gót giày hoang lạc
Đường tôi đi bỗng dưng rất sạch
Gió lau giùm nhổ những chông gai

Cội nguồn tôi có tự hôm nay
Vậy mà tôi lại quên đi mất!
13-10-2014