Thứ Sáu, ngày 01 tháng 8 năm 2014

* TẢN MẠN " Bình an và loạn lạc



BÌNH AN VÀ LOẠN LẠC 
   
         Thức giấc trong im vắng, một thứ im vắng rờn rợn pha lẫn thú vị, cảm giác như toát mồ hôi dù trời gây gây lạnh vì đang có bão ngoài biển Đông vào. Trải qua giấc mơ ngắn sống lại buổi chạy loạn ngày bé.
    Chiều ấy Tây bắn cà-nông tới tấp và càn về, đạn nhọn líu líu trên ngọn tre. Nó thả bom napalm cháy rực một góc làng. Thịt da, máu người tung tóe trên cánh đồng muối trắng xóa. Chập choạng tối thì im, sau lũy tre lại đỏ đèn và rầm rập tiếng chân, tiếng người quay về gọi nhau í ới. Chưa hiểu gì nhiều nhưng ấn tượng ghét Tây có từ những lần như vậy. Những năm khôn lớn sau đó hiểu Tây phải kéo cờ trắng ở Điện Biên Phủ là chuyện không thể khác được. Và hình như cái giá mà Tây phải trả còn hơi rẻ! Lẽ ra phải là cuộc tháo chạy kiểu Dunkerque hồi Chiến tranh thế giới lần 2 mới thật sự là đáp án của lịch sử.
    Đất nước này chỉ mấy chục năm mà bao nhiêu loạn lạc đủ thứ lính nước ngoài và trẻ con sớm biết tên súng đạn, tên những cuộc hành quân bằng tiếng Tây rồi tiếng Mỹ, chắc không ở đâu như thế cả. Ấn tượng Loạn in sâu trong lòng những người cùng thế hệ với tôi mà giờ còn sống. Sự bình an ngoài đời và cả trong tâm hồn bị đánh cắp, mất mát không được bù đắp mà thật sự thì cũng không thể bù đắp bởi bình an gắn liền với cả một tuổi thơ! Hồi nhỏ tôi nghe người theo đạo Công giáo hát "Mẹ hãy giơ tay ban phúc bình an...”, còn tôi tôi có câu hát nào như thế đâu?
    Loạn lạc tấn công càn quét bình an và không ngờ cuộc “càn” này lại dai dẳng đến tận bây giờ như nước chảy vào chỗ trũng làm những bước chân đi lẹp nhẹp! Những ngày này đọc báo và cả nhìn ti-vi thấy đúng là đang có khá đủ thứ “loạn”. “Loạn” cò bệnh viện hoạt động công khai níu kéo người bệnh vào những phòng mạch tư mọc tua tủa quanh các bệnh viện thật trớ trên so với câu “chăm sóc sức khỏe nhân dân”. “Loạn” phí học đường kiểu máy bay tàng hình cánh cụp cánh xòe, trên ra lệnh cấm thu phí linh tinh, dưới không phản đối nhưng đường ta ta cứ đi, chỉ khổ phụ huynh vừa phải móc túi thêm vừa ngơ ngác hỏi “kỷ cương, sư phạm ở đâu?”. “Loạn” giao thông làm chết 30 người mỗi ngày tương đương một trung đội quân thời chiến, giải pháp đưa ra toàn là giải pháp kỹ thuật, còn điều quan trọng là ý thức của người lái xe thì hỡi trời đó là một thứ “loạn”…phớt lờ!. “Loạn” từ những tên lưu manh đầu đường xó chơ xin đểu, cướp bóc, đến đại loạn lừa đảo tài chính, siêu lưu manh tham nhũng hàng ngàn tỉ đồng. Và có cả “loạn” môi trường do các nhà máy vô tư xả thải tươi ra sông vv. và vv…tức là còn rất nhiều thứ loạn khác nữa, bao trùm lên lãnh vực kinh tế, văn hóa và giáo dục và bao nhiêu lĩnh vực khác.
      Ê ẩm nhất là “loạn” sử dụng bằng cấp dỏm, giả trong giới quan chức, như vụ một Thứ trưởng khai có bằng tiến sĩ ở nước ngoài nhưng trường sở tại nói không phải bằng doctor, chỉ là tờ chứng nhận tu nghiệp! Không thể quên có những “loạn” giết người, trong đấy vợ giết chồng như vụ một nhà báo đang ngon giấc bị vợ tưới xăng đốt tử vong (và ngược lại), con giết cha, cha ra tòa vì giận vợ giết luôn đứa con 18 tháng tuổi…
    Những người thuộc thế hệ sau tôi có hạnh phúc là từ bé đã không in sâu trong lòng cảnh loạn lạc của chiến tranh, nhưng nay họ là nhóm người đi ngoài đường nhiều nhất, có quan hệ xã hội nhiều nhất, họ chứ không ai khác đang gánh bao nhiêu và cũng gây ra bao nhiêu là “loạn”! Đến nay không còn chiến tranh, không có người ra đi không trở về, không còn những chiếc hòm bằng kẽm mà trong đó có khi là đất thay vì thây một người đưa từ máy bay xuống cùng với một khuôn dáng nhàu nhĩ tan tác của người phụ nữ không kịp cuốn khăn tang. “Ngày mai đi nhận xác chồng/ Và đi để biết mình không là mình” ai đó đã làm thơ như vậy khi đột xuất trở thành một trong những tình huống có vẻ không nhàu nhĩ (vì là nhà thơ?) mà lạnh lùng chết người như thế.     Cuộc chiến tranh đã kết thúc mấy mươi năm, nhưng hiện nay thực sự có thanh bình không? Không! Văn hóa, lối sống, lòng tin, kỷ cương của một xã hội đang như nước bị vấy bùn đục ngầu tanh tưởi, bình an thế nào được?.
   Thơ tôi làm sao tránh khỏi loạn lạc khi tôi làm ra nó từ trái tim này, từ mảnh đất này, thơ tôi đầy những “loạn lạc” mà có lẽ tự trong tâm khảm nhận thấy những cơn loạn đó từ tuổi cần được nuôi dưỡng bởi một thứ khác, là sự bình an tỏa ra từ người lớn, từ không gian sống…Gần 50 năm trước, một buổi chiều bơ vơ ở Đà Nẵng tôi đã có những câu thơ này “Đời sống đen như tóc em đen/ Màu mực đen vẫn viết thư tình/ Những đêm đen hằn sâu ký ức/ Có thể nào em giúp anh quên. Và theo dòng, nhiều năm trong thơ mình, tôi cứ dai dẳng và âm thầm đi tìm sự bình an, là thứ cao hơn cả mọi thứ. Tìm và thấy là hai vế của một đẳng thức nhưng nhiều khi lại mơ hồ e ngại biết đâu đó có thể là một bất đẳng thức!
    Tôi sinh ra năm đầu cuộc Chiến tranh thế giới lần 2 và tất nhiên sẽ ra đi trong những năm sắp tới- một thời loạn lạc, vậy là đời tôi không phải một thời bình an! Thôi cũng đành, thở thật dài mà nói thế, đành là mong sự bình an sẽ có cho những đứa cháu của tôi mà đứa lớn nhất mới 6 tuổi đang chuẩn bị vào lớp Một vào đầu tháng 8-2014. Một thời vua Nghiêu, một thời vua Thuấn, một thời Nguyên Phong…thảng hoặc hiện ra nhưng lại chỉ trong ước mơ khi... tỉnh ngủ! Bí quan hay chính là hiện thực?


Thứ Năm, ngày 31 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Chim cánh cụt hiện về trong giấc mơ









Cao Thoại Châu
CHIM CÁNH CỤT HIỆN VỀ TRONG GIẤC MƠ                        

Em không khắc thơ ta lên đá
Bởi vì chưng nước chảy đá mòn
Trong trái tim một người đàn ông
Làm sao hình em phai được?

Trên đỉnh bình yên vời vợi nhất
Nơi em về thăm thẳm của lòng ta
Sáng ta nghe tiếng con chim hót
Nở bông hoa có thể sai mùa

Ta vẫn tìm lại những câu thơ
Mải yêu nhau để thơ rơi rụng
Trái chín một ngày kia rụng xuống
Tội cho cây không giữ được bao giờ

Và ta tìm những mối tình si
Mải làm thơ để tình bay mất
Em thả tóc trong chiều lặng gió
Dìu thơ ta những chữ im lìm

Ta đi tìm ta vẫn đi tìm
Ngày nào đó trái tim cạn máu
Ngày ấy em và thơ sẽ hiểu
Chim cánh cụt buồn nghển cổ đứng trông xa
31-7-2014



Thứ Tư, ngày 30 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Giang hồ khí cốt uống sữa tươi thay rượu!

Voi còn bí tỉ huống chi người!
Ảnh : Internet












Cao Thoại Châu
GIANG HỒ KHÍ CỐT
UỐNG SỮA TƯƠI THAY RƯỢU!

                             Trăm cơn sầu đổi một cơn say
                             Tôi đốt quán em đừng buồn tôi nhé
                            Rót cho tôi chai nào cay đắng nữa
                            Ly vỡ rồi cứ đổ xuống thân tôi...
                                                               (CTC)

* Tặng Trần Văn Chánh

Trời cho ta thêm một kiếp sau
Dài hơn kiếp này tha hồ mà sống
Sông là rượu đủ cho giang hồ uống
Mỗi bước chân ta mỗi quán giang đầu

Hỡi những người ta thân yêu hụt
Dang dở nào không có chút bi thương
Cám ơn các bạn không phiền trách
Đôi dép khi không rớt một chiếc ven đường

Kẻ say rượu thường khi rất bốc
Bạn quẳng ta lên tận trời xanh
Ta sợ nhất đàn bà, nhì say rượu
Khi họ đi ta còn không tới nửa thân mình!

Bạn tặng ta trăm lẻ tám bài thơ rượu
Của từng ấy anh em khí cốt giang hồ
Đọc xong ta giật mình ngán ngẩm
Giang hồ uống sữa tươi chưa biết rượu bao giờ!

Trăm lẻ tám cơn say toàn say giả
Chưa có gan đốt quán một lần
Cầm chiếc ly sao bằng ôm lu hũ
Ta không rót vào mồm mà tưới rượu lên thân

Thì hẹn nhé, chờ ta thanh toán
Cuối con đường đất sét dính chân nhau
Chờ ta lấp xong vai cái bến
Trả cho xong dăm mảnh tình sầu!
30-7-2014


Chủ Nhật, ngày 27 tháng 7 năm 2014

* TẢN MẠN : Hoang tưởng và ức chế cộng dồn



HOANG TƯỞNG 
VÀ ỨC CHẾ CỘNG DỒN 

 Tên cướp, có nhiều phần là không chuyên nghiệp, giết hai vợ chồng người chủ tiệm vàng ở Bắc Giang quả là tên máu lạnh quá tàn nhẫn khi say máu giết luôn đứa con chủ nhà mới 19 tháng tuổi, chặt đứt tay con chị của cháu bé này. Do chưa đủ 18 tuổi (thiếu 60 ngày) nên y chỉ bị xử tù 18 năm theo quy định của pháp luật. Cũng lạ, chỉ 60 ngày thôi thì người ta trưởng thành được gì so với hành vi tàn ác trên? Sau vụ giết người nói trên vài ngày, là một vụ giết người khác. Chỉ vì muốn chiếm đoạt cái nón bảo hiểm giá có vài chục ngàn đồng lý do là cỡi xe gắn máy nhưng không mang nón bảo hiểm sợ bị phạt mà một thanh niên đã đâm chết người chủ cái mũ! Giết người cướp vàng dẫu man rợ như kẻ sát nhân kia vẫn còn hiểu được. Nhưng có lẽ nào đang tồn tại những kẻ coi mạng người không hơn cái nón bảo hiểm?
    Đọc báo và dư thì giờ nên nghĩ ngợi lan man về tội phạm ngày một nhiều gây một cảm giác mơ hồ về không khí bất an đã có mặt giữa một xã hội lẽ ra phải an bình như xã hội Việt Nam dù tương đối mới là đúng. Tội phạm trộm cướp, giết người ở lứa tuổi thanh niên và cả những vụ nghe có vẻ nhỏ như vụ cô gái bị dừng xe để kiểm tra vì vi phạm luật giao thông đã tát bôm bốp vào mặt người CSGT ngay trước mọi người trên đường phố... đã tới lúc phải suy nghĩ về nguyên nhân sâu xa mang tính xã hội học của nó thay vì chỉ xử lý hình sự.          
       Tên sát thủ chưa đủ 18 tuổi, y còn thiếu một số ngày để phải nhận án phạt tử hình theo quy định của pháp luật. Điều này cho phép nêu giả thuyết đã có sự rối loạn chức năng cơ thể trong tình hình cuộc sống thuần nhã của Việt Nam đang bị xô lấn bởi cuộc sống đô thị ngày càng đòi hỏi nhiều nhu cầu trong khi nền kinh tế còn yếu kém cả về tiềm lực cũng như về quản lý, tham nhũng táo tợn. Tham nhũng tràn lan và nhịp độ táo tợn, gay gắt kiểu một xã hội lai căng đã gây nên một tác động xã hội, và hậu quả là mất dần khả năng cũng như ý thức chấp nhận hoặc tôn trọng trật tự xã hội như nó phải có.    
       Giết người là cách phá rối trật tự từ trong tiềm thức, nhận định này có phần gần với tên giết người vừa bị bắt. Y có bộ dạng khá hiền lành, hàng xóm ngạc nhiên trước cái tin kinh hoàng này vì y là đứa trẻ ngoan trong gia đình và khu phố, không gây lộn, không vướng tệ nạn nào và gia đình y cũng không phải một gia đình quá nghèo khổ hoặc một gia đình có vấn đề... Có một thúc đẩy tâm lý trong con người gây ra hành vi man rợ mất nhân tính này. Bị chao đảo, y không thể chấp nhận mà trái lại muốn phá đổ một trật tự xã hội trong đó mọi người đều cần được che chở bảo vệ, y là kẻ nổi loạn từ trong vô thức!
    Cũng từ yếu tố của cải trong hai vụ giết người nói trên - những cây vàng và cả cái nón bảo hiểm - cho thấy một khái niệm mà đến nay chưa được công nhận công khai trong xã hội ta. Đấy là sự bất công trong văn hóa thu nhập. Sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng có khoảng cách biên độ rộng ra hơn và cái giàu ngày càng có những trường hợp gần với cái không lành mạnh. Chuyện xảy ra cách nay không lâu trên sông Vàm Cỏ ở huyện Bến Lức tỉnh Long An là một ví dụ. Một số quan chức thuê thuyền máy chở ra sông mang theo mấy cô gái và những tôm cua, bia rượu để nhậu trên sông là việc làm rất tốn tiền và có dấu hiệu không lành mạnh. Đáng nói hơn, trong cuộc đi chơi của các quan chức thuộc ngành bảo vệ pháp luật cầm cân nảy mực này, lại có một cô gái 20 tuổi không phải gái bao hay gái tệ nạn chết đuối mà giờ này nguyên nhân còn chưa rõ, phải hiểu thế nào nếu nhìn từ góc độ người ngoài cuộc? Còn quá ít rất quá ít người có thể chấp nhận những quan chức thư giãn kiểu như trên vì đây là xã hội Việt Nam vốn nhất thể hóa vị trí xã hội của một người với lối sống thường nhật của người đó - thầy cô giáo ăn mặc hơi lòe loẹt thậm chí cầu kỳ, quan hệ xã hội hơi "thoáng" là điều gây cảm giác không bình thường và không "công bằng" giữa vị trí xã hội với lối sng cá nhân.
    Còn nữa, với tính hoang tưởng trong văn hóa thu nhập, nhiều thanh thiếu niên (và cả người lớn) hiện có não trạng tư duy hoang tưởng và hoảng loạn về một "sự bất công" trong thu nhập, nuôi ý tưởng bệnh hoạn là mình "lẽ ra có thu nhập cao hơn" mà không tính đến một cách thực tế khả năng của bản thân trong việc có một thu nhập cao như thế! Có phải do ức chế hoang tưởng mà những tên sát thủ ra tay một cách điên loạn với người giàu có, thậm chí với người chỉ có một xe máy và chiếc nón bảo hiểm?
    Không chỉ có thế, nhiều cái chết làm choáng váng hồn người xảy ra trong những nơi gọi là tổ ấm, là mái nhà tức là nơi chung sống giữa những người máu thịt với nhau. Vợ đốt chồng không phải ở ngoài tha ma nhị tì mà ngay trên giường ngủ, chồng hạ độc thủ người đàn bà dù sao trên danh nghĩa cũng là của mình (xác hay hồn?). Đau đớn hơn, có một phụ nữ trẻ bị khởi tố vì nghi phạm tội giết con. Cũng có thằng con không có chữ người, đi chơi về thấy người cha mang mấy đĩa nhạc ra nghe, nó nổi cục ngăn cản vì đó là đĩa của nó mua, hai cha con cãi qua cãi lại người cha không dằn được tát nó một cái. Tiếp theo, thứ “con” ấy mua xăng về tưới lên người từng gọi là cha và đốt! Nhà sáng rực và nhà thương phải cấp cứu 5 con người!
      Xã hội bây giờ có mức sống khá hơn nhiều so với thời gian trước dù nhìn dưới góc độ nào. Có điều, tại Sài Gòn, Hà Nội và hầu như tại bất cứ thành phố, thị xã nào cũng có những khu nhà trọ sơ sài mọc lên. Làm nhà tạm cho thuê trở thành một ngành kinh doanh, những người chủ nhà trọ này là những nhà kinh doanh… bất đắc dĩ nhờ cơm mang tận miệng! Nông thôn khó sống, giấc mơ đổi đời hoặc đơn giản hơn chỉ là mong thoát nghèo là sức hút người quê ra tỉnh và bị cuốn vào vòng xoáy. Trong vòng xoáy đó nhiều người mang lấy bức xúc của cái nghèo đô thị là mọi thứ vừa nghèo vừa bị nhốt như nêm cứng trong không gian chật hẹp. Từ chỗ nghèo mà không có một chút yên bình thanh thản khác với nghèo nông thôn truyền thống còn tìm thấy một tương lai xa, thật xa trên mảnh đất nhỏ, cho nên không ít người bị ức chế, dồn nén càng ngày càng nhiều và không có lối thoát cứ đẩy sâu vào trong lòng.
    Không chỉ có ở những khu nhà trọ  sơ sài, ngay người đô thị có chân sẵn ở đó, cũng không khỏi bức xúc, không mấy khác những gì dành cho người quê ra thành. Ra đường gặp không ít những khu đường ngập lụt, kẹt xe lóp ngóp giữa trời nóng nực hay dưới mưa tầm tã. Những va chạm kể như chuyện thường ngày thường dẫn đến hậu quả lẽ ra không đáng có nếu tâm hồn người ta thanh thản một chút. Rồi những cảnh chen chúc, chờ đợi tại các bến xe, nhà thương, trường học, tại các công sở với cách ứng xử hoặc quan liêu hoặc do quá tải… tạo không ít căng thẳng mà gần như không ai tin rằng đó chỉ là căng thẳng tạm và có tính thời vụ…Đó là một căn bệnh!
       Trong vụ cô gái tát CSGT, có yếu tố là cô gái không phải một cô chiêu con của đại gia hay quan chức và khi ra tay như vậy cô hoàn toàn không bị anh CSGT làm mất danh dự, cô chỉ bị thổi còi và mời xuống xe. Đó phải chăng là ức chế cộng dồn của người dân đối với công chức mà nguyên nhân có khi chỉ là do những thủ tục nhiêu khê trong lĩnh vực hành chánh công hay những sách nhiễu hoặc một số trường hợp sống phi đạo đức hành chánh nào đó mà ai cũng có thể trải nghiệm hoặc đọc thấy (thật nhiều) trên báo chí? Thật thấm thía khi báo chí gọi hành chánh là "hành dân là chính"! Ức chế khi đã thành một tâm lý phổ biến thì chỉ cần một duyên cớ thật nhỏ khi đối mặt với công chức là nó bùng nổ như cô gái vừa lãnh án 3 năm tù về tội tát CSGT kia đã làm.
    Căng thẳng, bị dồn nén bên ngoài theo một số người vào nhà, và căn nhà ấy như vừa rước cú dòm nhà đám, nuôi ong tay áo, rước hoạ vào nhà. Nó bùng lên một lúc nào đó nếu có một thành viên nào chế thêm dầu vào lửa! Bức xúc bùng lên và những kẻ sống bản năng bộc lộ một sát thủ tiềm tàng! Trừng trị nghiêm khắc nhưng kẻ này là một yêu cầu chung của toàn xã hội nhưng như thế chưa đủ, thậm chí là còn thiếu lắm. Bởi đã có cả một làn sóng tội ác đủ kiểu dạng và càng ngày càng nghiêm trọng về các mặt. Dưới bề mặt bình an của xã hội là một con nước ngầm của cái ác do cộng dồn những ức chế mà có, thì trừng phạt chỉ là chữa cái ngọn! 
    Những nhà đạo đức lo âu và ngao ngán cho rằng đạo đức xã hội xuống cấp, thậm chí tan hoang… Nhưng nguyên nhân của những vụ thảm sát thì thật tình rất khó tìm ra trong một vài ý kiến dù có chính xác tới đâu. Mỗi người tùy theo não trạng, vị trí, trình độ của riêng mình mà đưa ra những giải mã và giải mã nào cũng có lý nhưng không lời giải nào làm hài lòng mọi người. Và cũng thật sự chưa có một đáp án nào có thể làm cơ sở cho những ai có trách nhiệm chặn đà đi xuống này. Đau thương hơn, dường như cũng thiếu những người có trách nhiệm trong việc làm cần kíp này!!
     Còn nhớ, thơ Nguyễn Công Trứ có câu “Thời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”, đó là một xã hội có nền tảng là cái thiện, cái công bằng, cái an bần lạc đạo. Và để mặc cho cái thiện thua s nghèo túng xét cho cùng là đồng lõa với cái ác, thậm chí chính là cái ác!


Thứ Bảy, ngày 26 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Tân An chiều mưa rả rích



Cao Thoại Châu
TÂN AN CHIỀU MƯA RẢ RÍCH


Trời đang hạ mà sao gió Bấc
Thổi qua vai lạnh cóng linh hồn
Trong sâu thẳm mà còn như thế
Huống chi là da thịt tay chân

Và nghe mỗi lúc một thêm gần
Tiếng tù và của người chăn chiên nào đó
Những âm thanh thật ra cũng nhỏ
Như sợi dây cuốn lấy thân mình

Mưa rả rích một mình trong quán
Nhìn xung quanh không thấy mặt trời
Mắt chủ quán đang đan tấm lưới
Đợi một ngày nào đó ra khơi

Mưa rơi vào cõi mơ cõi mộng
Nghe bay ra dăm hạt mưa thừa
Không, đó những hạt mưa đi lạc
Những cuộc đời lạc giữa cơn mưa

Chiều buồn có thể sẽ qua đêm
Không chừng thêm một ngày làm sao biết trước
Đêm, là lúc sẽ nằm thao thức
Giả vô tri như chết trong mùng
26-7-2014
  


Thứ Tư, ngày 23 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Một thời hoang vu Ấp Bắc



Cao Thoại Châu
MỘT THỜI HOANG VU ẤP BẮC

* Gửi Đỗ Ngọc Minh


Khó quên vùng đất nhão nhè
Khi chiến tranh vừa chấm dứt
Một bên thắng và những người thua
Bắt đầu cởi botte de saut đi chân đất

Xung quanh là nỗi nhớ nhà
Của đám bạn bè vừa mới thay y phục
Của một tương lai nằm trước mắt
Mà trông chẳng rõ được điều chi

Của nhão nhè mỗi bước chân đi
Những cây cầu tre dài như vô tận
Không phải trường giang nên sống đến bây giờ
Thời buổi nào cũng có người sống sót

Xung quanh là vô số những hố bom
Dấu tích một thời không muốn có
Hết chiến tranh thành ao nuôi cá
Cá vô tình chẳng chọn phe ai

Trăng lờ mờ soi cánh ruộng mênh mông
Gối đầu lên tay cố tìm dăm tiếng động
Chỉ có một vầng trăng không đủ sáng
Và xung quanh nồng nặc mùi bùn

Giật mình, đã hơn ba mươi năm
Hố bom cái nào còn cái nào đã lấp
Những đêm trăng hoang vu Ấp Bắc
Tiếng cá khuya đớp bóng có còn không?
23-7-2014

Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014

* Tạp chí Sáng Tạo, trong ký ức người đọc


Tản mạn
TẠP CHÍ SÁNG TẠO,
TRONG KÝ ỨC NGƯỜI ĐỌC


    Tôi vừa 17 vào năm 1956, đã vào Sài Gòn sống được hơn một năm, đang đi học, đang làm quen với một thế giới khác qua giọng nói đầy phương ngữ, qua những món ăn chưa thấy bao giờ, qua cách sống dung dị với tờ giấy bạc xé đôi khi cần tiêu một nửa…Và, nhất là qua một bối cảnh lịch sử đang dường như thiếu thời gian cho sự đòi hỏi một vận động triệt để: cuộc chiến tranh chống Pháp đang loay hoay một cách lý giải tại đô thị miền Nam. Và với một đứa bé có chút máu mê văn chương thì đó còn là bắt đầu một quá trình làm quen với những “luống cày” văn học mà người cày không ai khác hơn là nhóm Tạp chí Sáng Tạo.
     Trên nửa thế kỷ đã đi qua, những biến thiên lịch sử, xã hội mà tôi bị cuốn vào đó đã san lấp ký ức tôi, có thể nói đã một lần phá hủy tôi khi mà sách báo gom góp bao nhiêu năm (trong đó có Sáng Tạo) đã phải nộp để đốt theo lệnh nhà chức trách trong năm 1975. Bây giờ còn gì chăng chỉ là ký ức có phần mòn mỏi nhưng tôi nhất quyết níu lấy nó khi viết bài này thay vì có thể tìm vào một thư viện nào đó…
     Tháng 10 - 1956, Tạp chí Sáng Tạo ra đời tại Sài Gòn như một sự "nổi loạn", một "chất nổ phá đổ cái cũ, tạo dựng cái mới" mà ngay cả hình thức trình bày, ấn loát cũng vậy. Trên Sáng Tạo xuất hiện những tên tuổi chưa một thời xuất hiện như nhà văn tên tuổi, họ từ miền Bắc vào trong cuộc di cư 1954  : Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Quách Thoại, Nguyên Sa…
        Họ tạo dựng cái mới như thế nào? Mai Thảo viết:"Những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ rứt thoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế. [...] Cái vấn đề lớn nhất của chúng ta bây giờ, trước sau vẫn là phải làm sao đoạn tuyệt được hoàn toàn với những ám ảnh và những tàn tích của quá khứ [...]. Công tác chặt đứt với những trói buộc cũ phải được đặt lên hàng đầu ... và thơ bây giờ là thơ tự do”. Thanh Tâm Tuyền định nghĩa nổi loạn: "Nổi loạn là một hành động đòi được gia nhập đời sống: Kẻ nô lệ đòi quyền sống như những người tự do. Như thế nổi loạn là điều kiện sáng tạo." (Những chi tiết này tôi lấy được trên Internet)
     Trên thực tế, Sáng Tạo đặt vấn đề một cách rốt ráo hơn so với Tự Lực Văn Ðoàn những năm 39 – 45. Văn chương không phải công cụ xã hội của âu hóa của một xã hội VN cũ kỹ, mà đã có suy tư là : Có thể có tác phẩm văn học hay không? Có thể có một cuốn tiểu thuyết, một kịch bản, một bài thơ được không? Chữ nghĩa có giá trị gì? Ðặt lại vấn đề viết, viết như thế nào? Lối viết kể chuyện, có cốt truyện, và cả lối viết hiện thực, tả chân kiểu Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng ... đã lỗi thời vì không đạt tới tận cùng tính cách chính xác và xác thực. Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền là một ví dụ về cách viết, cách đặt lại vấn đề viết.
     Tôi cũng tìm được sụ nhất trí với một tác giả viết tern internet: Thổi nguồn gió mới vào thời đại của họ, thay đổi bộ mặt văn học nghệ thuật, Sáng Tạo đã thành công trong việc hiện đại hóa văn học, đem hai dòng mạch lớn của thế kỷ XX vào văn học Việt: Dòng hiện sinh và dòng siêu thực, với những tính chất nền tảng: Hoài nghi và Mộng tưởng.
      Lớp người đọc 16, 17 chúng tôi đến đó bắt đầu biết đến Sartre, Camus, đến dấn thân, đến biện chứng của Sartre…Tôi không quên khi Sáng Tạo đang “vỡ đất” thì Nhất Linh xuống núi và tờ Phong Hóa Ngày Nay của ông tại Sài Gòn nhanh chóng thành tạp chí của..ngày xưa mà không một dòng điếu văn nào cả!
      Sáng Tạo đặt lại vấn đề một cách kinh ngạc cho bọn chúng tôi khi ấy. Tác phẩm văn học có phải chỉ là công cụ, phương tiện thực hiện những luận đề như cả ngàn năm trước kia? Hay nó chính là cứu cánh? Có thể có một cuốn tiểu thuyết, một kịch bản, một bài thơ được không? Chữ nghĩa có giá trị gì? Ðặt lại vấn đề viết . Viết như thế nào? . Tác phẩm không cần kết luận, mà tác phẩm trình bầy một biện chứng, một thẩm mỹ của sự dang dở, mở cửa cho những suy nghĩ khác và sẵn sàng chờ đón những nối tiếp về sau.
     Tác phẩm không còn nhiệm vụ khơi gợi cảm xúc và làm mủi lòng theo nghĩa lãng mạn, mà tác phẩm gây nỗi đau, gây khó chịu bằng nhận thức. Sáng Tạo là một khúc quanh văn chương lớn lao và cũng là khúc quanh gấp.
   Trước nó, văn chương tại chỗ (tôi nghĩ Hồ Biểu Chánh là đại diện) loay hoay những mối tình éo le, mùi mẫn, nhân vật phần đông cam chịu dưới một tâm lý hời hợt mà không có bi kịch. Và dòng văn chương Tự Lực văn đoàn thì đến khi đất nước chia đôi dọn vào miền Nam cũng chỉ còn biết tá túc trong những ngày tàn của môt thứ văn chương luận đề mà vào hoàn cảnh mới đã không còn “chính nghĩa” nữa. Có một nửa nước với một chế độ chính trị xã hội mới thì cũng đòi hỏi tự do sáng tác và đổi mới tư duy văn học trổi dậy phù hợp. Có vẻ như đã có khuynh hướng quên đi văn chương 9 năm chống Pháp, tôi nghĩ động cơ không phải chính trị mà là do khao khát cái mới mà nhóm Sáng Tạo là thành phần chủ công tuy có “xa rời quần chúng” nhưng lại được chính quần chúng đón nhận, ít ra cũng là thành phần “ưu tú” của quần chúng văn học thời đó.
     Ngày ấy và đến bây giờ, với tôi nhân vật đình đám củaSáng Tạo - như một nhân vật tiểu thuyết – không ai khác hơn Thanh Tâm Tuyền, cái đáng nhớ là ở chỗ ông vừa đột phá về tiểu thuyết vừa tiên phong khai phá thơ tự do.
     Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền hoàn toàn phá bỏ những cấu trúc như lối thơ cũ và quan niệm nghệ thuật theo tinh thần Dionysos nổi loạn chống lại sự hài hòa theo tinh thần Apollon. “Người làm thơ không tạo những hình dáng cho cuộc đời vốn đã là một hình dáng, họ muốn nhìn thực tế bằng con mắt trợn tròn, căng thẳng phá vỡ hết mọi hình dáng để sự vật hiện ra với cái thực chất hỗn loạn không che đậy."  Đó là những câu ông viết năm 19 tuổi (1955), mà các nhà phê bình xem như là tuyên ngôn về thơ tự do. Thanh Tâm Tuyền quan niệm rằng: "Thơ tự do không gieo vần lối đồng âm, đồng thanh, vần của nó là vần ẩn giấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó là sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trong một số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác". Ngoài ra ông còn đề cập đến loại nhịp điệu của hình ảnh và ý tưởng, nói chung đó là nhịp điệu của ý thức.(Từ Internet)
     Trong thơ ông còn dùng kỹ thuật tạo hình lập thể và siêu thực: coi đời sống là những mảng đứt đoạn, thực tại là một chuỗi liên tục những mảng đứt đoạn ấy và tiềm thức là nguồn sáng tạo vô biên.
    Gần đây tôi đọc được nhận định của một người rằng Thơ Thanh Tâm Tuyền thường không phải là tiếng nói hay lối suy tưởng thông dụng và những hình ảnh quá khác biệt đặt cạnh nhau trong thơ ông theo kỹ thuật tạo hình siêu thực khiến người đọc khó thấy hết ý nghĩa ẩn dụ chứa trong đó:
Đêm giao thừa thế kỷ mưa rơi sao
mái sáng đường nằm chiêm bao biển giận dỗi
bàn tay mây mắt trăng môi nhiệt đới
Đó là những hình ảnh khác lạ chưa bao giờ thấy trong thi ca Việt Nam: Đêm giao thừa thế kỷ, mưa rơi sao, ..., bàn tay mây, mắt trăng, môi nhiệt đới. Và những hình ảnh thật đẹp, ta đã quá quen thuộc cũng xuất phát từ thơ ông: đêm màu hồng, lệ đá xanh, nắng thủy tinh ... : "Hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền là người dẫn đường, người tiên phong đem siêu thực vào Việt Nam một cách có hệ thống và đã tạo ra những câu thơ mới nhất, giàu hình ảnh nhất trong thơ Việt". Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đã phẫn nộ, đau đớn, mong được khóc la, được run giận, ... bằng chính thể xác của những cặp uyên ương trong thành phố Budapest để thông cảm đến tận cùng những nỗi thống khổ vô biên của họ:
Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác
. . . .     
Hãy cho anh la bằng cổ em  
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói   
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai   
. . . .
Hãy cho anh chết bằng da em 
Trong dây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em     
Hỡi những người kế tiếp
lời thơ giản dị nhưng cách diễn tả mới lạ, vần điệu biến mất chỉ còn là hình ảnh, những câu thơ dài ngắn khác nhau hầu như được sắp xếp theo những ảnh tượng và cảm xúc trào dâng trong tâm hồn tác giả mà tác giả cho đó là loại nhịp điệu của ý tưởng, của hình ảnh. Đây là bài thơ tự do thật hay, gây xúc động mạnh và được nhiều người yêu thơ thời đó truyền tụng, đọc thuộc.
   Thơ Thanh Tâm Tuyền đầy tình nhân ái. Giọt lệ sầu thảm của những kẻ cô đơn cứ chảy mãi, chảy mãi trong đớn đau đến hóa thành những viên đá xanh và tim của những viên đá ấy cũng phải rũ rượi! Đó là những hình tượng đẹp trong thơ văn:
Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không   
lệ là những viên đá xanh   
tim rũ rượi   
Tổ quốc, trời xanh nín lặng; cuộc sống không lối thoát bủa vây và bóp chết mọi hy vọng, tuổi trẻ thì quá buồn; những kẻ yêu nhau đôi lúc phải tìm cách trốn thoát thực tại, trốn thoát những dày vò khổ đau sẽ đến trong những ngày sắp tới:
Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa
Đi đi chúng ta đến công viên       
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối       
Ôi môi em như mật đắng       
Như móng sắc thương đau
Đi đi anh đưa em vào quán rượu       
Có một chút Paris       
Để anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội       
Anh là thằng điên khùng
ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới.
Chiếc kèn hát mãi than van      
Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Tuổi trẻ sao quá buồn       
Như con mắt giận dữ
Tuổi trẻ sao quá buồn
như bàn ghế không bầy
Thôi em hãy đứng dậy       
Người bán hàng đã ngủ sau quầy       
Anh đưa em đi trốn       
Những dày vò ngày mai.
     Đọc thơ Thanh Tâm Tuyền là đi vào những thiên đường của dĩ vãng, của hoài niệm và ký ức.  Ông quả thật là mang tâm hồn thi sĩ đa tình, mẫn cảm. Dòng thơ của ông đem đến cho ta muôn vàn cảm xúc giản dị và gần gũi. Xét cho cùng nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đã cống hiến cho nền văn học Việt Nam những dòng thơ tràn ắp thi vị thi ảnh, được viết lên từ những khát vọng của tự do, từ những cái nhìn linh cảm về những chặng đường của cuộc đời mà ông đã đi qua ( Internet)
 Về nội dung chính yếu, chất liệu trong thơ văn Thanh Tâm Tuyền là ý thức thất bại. Thất bại của con người trước định mệnh nói chung, cụ thể là sự bất lực của giai cấp trí thức tiểu tư sản Việt Nam trước thời cuộc. Viết văn, làm thơ, làm nghệ thuật nói chung, là cố gắng vượt qua sự thất bại đó, biến nó thành nghệ thuật.
*
Bếp Lửa là một truyện vừa đầu tay của Thanh Tâm Tuyền. Truyện được viết từ ngôi thứ nhất “tôi” tên Tâm, dạy tư thục ở Hà Đông, khoảng 1952.
    Không phải là tự truyện, nhưng Bếp lửa phản ánh tâm trạng tác giả, và một số thanh niên đồng lứa vào thời điểm trước hiệp định Genève 1954, tại Hà Nội, và vùng phụ cận dưới sự kiểm soát của Pháp. Chủ yếu là những nét chấm phá nhẹ nhàng, nhưng rất sắc về tâm thức chính trị của con người lúc đó qua những nhân vật: ông Chính, đảng viên Quốc dân Đảng, còn hoạt động; Bảo có tham dự phong trào Ngũ xã nhưng nay đã tuyệt vọng; Đại say đắm chủ nghĩa mác-xít và chuẩn bị ra khu; Hoà nhân viên Phòng nhì; Ngọc hoàn toàn hư vô và chối từ tổ quốc… Giữa họ là những nhân vật nữ, hiền lành, vô tội, như chị em Thanh và Minh, em họ Tâm; Hạnh; Thịnh vào ra giữa hai vùng… Còn Tâm? Anh xê dịch giữa đám người đó, không thân không sơ, và nói như Meursault, nhân vật Người xa lạ : không biết rõ mình muốn gì, nhưng biết rõ những điều mình không muốn. Khi Tâm bị ông hiệu trưởng cho thôi việc, “ngạc nhiên một chút rồi tôi không hỏi vì cớ gì ông muốn tôi nghỉ việc cũng như ông đã quên không nói cho tôi biết… Tôi cũng chẳng buồn quan tâm. Tôi nhẹ nhõm vô cùng và ngủ một giấc rất say” Trong thế giới ấy, quan hệ tình cảm cũng mong manh, sắc sắc không không, như giữa Tâm và Thanh, một cô em họ, cũng mồ côi cha mẹ. «Đôi khi tôi nghĩ tôi có thể yêu Thanh và che chở cho Thanh, giây thân thích giữa cúng tôi không đáng kể (…) nhưng chưa bao giờ tôi nói ý nghĩ của tôi cả”.
   Quan hệ tính dục cũng nhẹ nhàng thôi. Tâm gặp lại Hạnh, “chúng tôi cùng đi ăn cơm với nhau. Và đêm ấy tôi ngủ với Hạnh ở khách sạn” . «Gần nhau, tôi nhận thấy chiến tranh – hay chỉ cần sự đe doạ của chiến tranh, tổng quát là sự khủng bố tinh thần – đã thổi vào máu Hạnh sự say đắm nhiệt tình trong yêu đương (…).”.
     Vào năm 1965 khi truyện ngắn Dọc Đường của nhà văn Thanh Tâm Tuyền ra đời thì thời điểm này cũng là khi các thành thị lớn nhỏ của Sài Gòn bị lọt thỏm trong chiến cuộc mà ngày và đêm trở thành ranh giới cho không ít những phận người. Lúc ấy tôi 26 tuổi, và đọc “Dọc Đường” với một cảm giác rùng mình nổi da gà, 49 năm qua đi nhưng đến nay cảm giác ấy vẫn còn rất sắc sảo.
      Không gian và cảnh tượng chỉ là một buổi chiều chạng vạng ở một dãy phố chợ tạm bợ nằm dọc quốc lộ chạy qua một khu rừng cao su. Và cũng như cái không gian không tên riêng, những nhân vật của “Dọc Đường” cũng chỉ được gọi theo giới tính, độ tuổi... hoặc một nét nhận dạng bất kỳ nào đó. “Người đàn ông ngồi ngoài cùng kế cây cột chống, mặc áo lá quần xà lỏn, một chân co lên ghế, tay bưng ly cà phê uống từ hớp nhỏ. Người đàn ông liền bên vận quần áo kaki sờn rách, đầu đội nón bẻ vành, chân đi giày không vớ, cầm chiếc muỗng nhỏ xíu gõ nhịp lên bàn. Người ngồi tách riêng một phía già hơn hết, tóc tiêu muối, vận quần lnh đen bám bụi đỏ, áo túi trắng ngả màu.”
       Sống ở cái nơi như thế, trong bối cảnh cuộc chiến tranh đã tới hồi gay cấn, điều quan tâm của nhóm người này là một... con đường có những chuyến xe đủ loại chạy qua biểu hiện của sự thông suốt liền lạc mà bất cứ lúc nào cũng có thể không còn như thế. Vào thời buổi ấy, trời càng về chiều xe càng chạy bán sống bán chết cho kịp tránh bóng đêm khi đường , rừng được “bàn giao”. Không khí chiến tranh được dẫn vào truyện đơn giản như một thói quen chờ đợi như vậy. Nghệ thuật hiển thị sự việc của Thanh Tâm Tuyền là rất điêu luyện, chúng cứ lộ diện từ từ từng chút một, từ câu nói vu vơ “Tối nay thế nào cũng có hành quân” đến “Đậu cái này rồi về tía” ,“Tụi bay tuột dù hết rồi. Máy bay trực thăng đó.” Toàn là những lời vô tư ngắn gọn phục vụ đánh bài như thế. Vài phút sau, tiếng động cơ nổi rõ hơn, tới gần... Chiếc trực thăng bay sà thấp ngang qua quán. Hai người dân vệ từ trong lối xóm trở ra, chân mang giầy bó túm ống quần bám sình vì bụi đất: một người đeo súng hai tay bưng trên miệng húyt vào chiếc lá tre non kêu chít chít từng hồi như tiếng chim, một người quàng hai tay trên hai đầu súng đặt nằm ngang cần cổ ngó phía trước, cả hai mặc đồ đen đội những chiếc nón vải đen có lưỡi. Lính chuẩn bị co rút vào đồn vì đã tới giờ bóng đêm không là của họ, còn một số người dân thì sửa soạn về ngủ tạm tại một thành phố gần đó, như loài chim di trú trốn tuyết. Người đàn bà không có cái ưu tiên...được sợ chết này, nói với chồng:
- Mấy cha chỉ bầy chuyện đi chơi không à!
- Tao là đàn ông mầy nghe chưa? Ở nhà để lỡ như lần trước... Tao ở nhà… Đ. m. thứ đàn bà ngu!
Ngay lúc ấy một chiếc xe có thể là cuối cùng từ từ đi qua hết đoạn đường rào kẽm gai đậu trước quán hớt tóc. Người lơ xe nhảy xuống đất kêu vô trong:
- Xuống lẹ lên cha nội. Một người đàn ông tay ôm bọc giấy dầu, lom khom bước xuống. Tới đất, người đàn ông lại muốn trở lên, nói
- Không phải đây…
     Và chuyện bắt đầu.
     Chiếc xe đò rồ ga chạy thẳng vào. Người đàn ông đứng lại bên đường ngơ ngác. Hắn vận bộ bà ba đen, chân đi săng-đan, tóc cắt ngắn, mặt mũi gồ ghề xanh xao. Hắn ngửa mặt nhìn lên trời trông chiếc trực thăng từ phía rừng cao-su bay tới, đứng im rồi hạ thấp trên bãi trống bên kia đường. Một vài người nhìn thấy người đàn ông bận bà ba đen ôm bọc giấy dầu đứng trước quán hớt tóc.
     Anh ta đi dần và dừng lại trước nhiều căn nhà mong tìm một chốn nương thân qua đêm. Nhưng nào có ai chứa anh ta? Hai chiếc xe be kềnh càng rần rần từ trong rừng cao-su, xe chạy chậm. Người đàn ông đưa tay lên cao vẫy kêu: Cho quá giang… Hai người tài xế đưa tay vẫy chào và xe vẫn chạy.
Người đàn ông thất vọng lẩm lũi trở vô quán. Người đàn bà chủ quán hỏi
- Chú ở đâu tới?
- Tôi đi kiếm thằng em của tôi làm đồn điền cao-su. Nhưng cái khổ là anh ta không nhớ tên nơi mình muốn đến.
- Chú nói chuyện trời đất không à. Bộ khi không chú ngồi đó không cho tôi đóng cửa tiệm đi ăn cơm hả? Chú tính chuyện gì?
Người đàn ông sửng sốt, giật hai tay ôm gói đồ vào bụng ngó trân người đàn bà:
- Thím cho tôi ngủ đậu. Thím làm phước. Người đàn bà kêu lên:
- Đâu có được chú... Biết chú là người thế nào mà cho ngủ đậu. Lỡ đêm chú cắt cổ tôi sao? Người khách lạ, nhìn mọi thứ, là một người lương thiện bị đánh đồng với những kẻ bất lương bởi người ta sợ hãi hơn là dành chỗ cho lòng nhân ái
- Tôi đi đâu? Thím nghĩ coi…
- Tôi không biết. Mấy người rắc rối lắm.
Người đàn ông ngập ngừng bước ra khỏi quán tiến tới bên cửa một tiệm sửa xe. Và điệp khúc lặp lại, lộ rõ hơn anh ta là kẻ lỡ độ đường
- Anh Hai cho tôi ngủ đậu. Dưới đất cũng được. Mơi tôi đón xe về sớm.
- Bộ anh cho là tôi khùng hả. Cha này kỳ quá…
Ngoài rừng trời chạng vạng nhá nhem. Người đàn ông đi tới bên lề đường. Một vài tiếng đại bác nổ ầm ở xa. Hắn gõ nhẹ lên cánh cửa rồi nghe ngóng... Trời cứ tối dần. Người đàn ông cúi nghiêng xuống ngang mặt với lỗ hổng:
- Tôi lỡ độ đường(CTC nhấn mạnh)
     Một tiếng nổ ầm rung chuyển đất. Lỗ hổng đóng xập lại và tiếng chân chạy trong các nhà, Mọi cửa đều đóng vội. Những tiếng nổ tiếp theo còn cách xa. Người đàn ông dáo dác ngó ra đường. Trên trời phía rừng cao su trái hỏa pháo bắn vọt lên lơ lửng vài phút rồi tắt. Tiếp theo một trái hoả pháo khác. 
         Người đàn ông đứng ôm bọc giấy bên lu nước .           
       Tôi còn trong ký ức mấy câu thơ Thanh Tâm Tuyền :
        Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuồng dòng sông 
        Mà lòng mình phơi trên kè đá 
        Chiều không xanh không tím không hồng 
        Những ống khói tàu mệt lả
        Ngày ấy, tôi cứ lẩm nhẩm những câu thơ có hình ảnh tuyệt vời này và  không làm sao quên câu nói của nhân vật trong truyện ngắn Dọc Đường : “Tôi lỡ độ đường”. Bây giờ đây tôi có thể nói được câu nào khác hơn những câu ấy?
CTC 6-2014


Thứ Bảy, ngày 19 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC: Khi chia tay mới biết đã gặp Phù Hư


Cao Thoại Châu
KHI CHIA TAY MỚI BIẾT ĐÃ GẶP PHÙ HƯ


Sao đời lại trùng tên với bạn
Có chăng vì ưa bút hiệu này không
Bạn có tức khi đời hư ảo
Mang trăm thứ phù hư núp dưới chân mình

Can bạn đừng làm chi nóng giận
Buồn quanh thân như thế cũng đủ rồi
Tên bạn nói trăm điều đáng nói
Đoàn đông người tụ lại chung vui

Thời thơ ấu chơi trò cút bắt
Nơi trốn nào cho được yên thân
Nước xà bông thổi thành bong bóng
Bong bóng tan nhanh dù đẹp vô cùng

Bạn chơi trò văn chương chữ nghĩa
Chữ cái không nhiều mà sức mạnh vô biên
Vô biên hay chỉ là trò hư ảo
Nhân vật hay là hình nộm tô son

Hình nộm đi đâu khi mùa dưa đã hết
Chim bay đi nơi khác kiếm mồi
Chim cũng biết đời là hư ảo
Lưng trời buông tiếng hót không vui

Và một hôm qua bến sông buồn
Trời u ám như trời đang giải thể
Sông tan tác sóng không lên được nữa
Bạn chọn cho mình hai tiếng Phù Hư?
19-7-2014

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 7 năm 2014

* TẢN MẠN : Khiêm tốn là một nghĩa vụ, bao giờ?





KHIÊM TỐN LÀ MỘT... NGHĨA VỤ - 
BAO GI?

Từ thời còn rất nhỏ sống chung với đại gia đình ở một làng quê tôi đã nghe, luôn luôn được nghe hai chữ “Không dám” trong các câu trả lời của người lớn với nhau. Khen cái gì đó thuộc phạm trù đạo đức, phẩm hạnh của ai đó là đẹp thì người khen không thể không được nhận hai tiếng “Không dám”, không phải là lời chối từ hay phủ nhận mà chỉ là biểu lộ sự khiêm tốn trong giao tế. Hình như với những lời khen nhắm vào một vật cụ thể (xe, nhà, áo…) thì người được khen không cần đáp lại như vậy. Hóa ra sự khiêm tốn luôn phải gắn với lãnh vực tinh thần, nó là một phần của lãnh vực này.  Tôi không nghĩ đó là khách sáo, mà cho là khi được khen mà mình yên lặng nghe thì có vẻ thô thiển và tự cao quá! Sự khiêm tốn là một nghĩa vụ bất thành văn, nó làm cho quan hệ giữa người với người trở nên dễ chịu hơn, đẹp hơn!
      Nhưng nay, ngày càng có nhiều nghĩa vụ đặt trên vai một người nhất là trong tư cách một công dân. Anh phải tuân thủ pháp luật và các quy định hành chính mà ngày càng nhiều đến nỗi không khả thi và chồng chéo. Không được hút thuốc nơi công cộng là một nghĩa vụ thả nổi. Không được bán thịt quá 8 giờ sau khi giết mổ, tuy khôi hài và ngớ ngẩn nhưng cũng là nghĩa vụ bởi đó là quy định của pháp luật! Thật khó lòng thống kê được hiện có bao nhiêu nghĩa vụ thành văn dành cho một công dân bởi vì có quá nhiều quy định. Trong khi “nghĩa vụ” khiêm tốn thì lại quá thiếu thậm chí chỉ là tự giác của những cá nhân được giáo dục chu đáo!
        Tôi nghe kể, ở một quán nhậu bình dân vỉa hè nọ nằm tại đầu con hẻm, đêm đêm ma men cứ thản nhiên xả thải vào bức tường bên hông căn nhà đối diện. Chủ nhà ngộp thở bèn viết mấy chữ “Xin đừng phóng uế”. Xin dễ gì cho thế là “Cấm đái” nhưng lấy quyền gì cấm? Chủ nhà tức quá bèn trổ tài nghệ thuật vẽ một con dao bầu lên tường, nhưng ma men biết con dao đâu dám gây án, vả nó là dao ảo làm sao xử được vật thật? Cuối cùng chủ nhà bèn lấy mấy viên gạch chồng lên nhau như hình một cái miếu nhỏ tí, có một bát hương cứ tối là khói bay nghi ngút. Một ma men ra, trước khi hành sự anh ta chợt nhận ra hương khói bèn sợ hãi ngừng lại nhưng không kịp và…tè cả ra quần! Chủ nhà nói nhờ mấy nén nhang thắp lên mỗi tối mà môi trường không còn bị ô nhiễm nữa! Cái thống khổ của một căn nhà thế mà không chấp nhận cho khổ chủ nói lời khiêm tốn mà bắt người ta cậy đến thần linh!
       Khen một bài thơ trước mặt tác giả thường lời khen đi tuốt vào lòng tác giả mà không có hồi âm, mấy ai nói “không dám” trong trường hợp này? Nhưng sẽ là dại dột nếu coi thơ người mà không nói một lời khen dù thật sự thì đó là thơ “đọc được” vì…viết bằng tiếng Việt!
       Trong các buổi tổng kết của các đơn vị từ giáo dục, hành chính đến đủ loại khác, không những đã không thành nghĩa vụ mà khiêm tốn còn mọc cánh bay đi chỗ khác chơi. Người ta thiếu khiêm tốn ngay trong ngôn ngữ giới thiệu các nhân vật tham dự, giới thiệu không sót người nào với đầy đủ mọi chức vụ mà người này có, và được lặp lại đầy đủ mỗi khi nhắc đến người này. Rồi những con số thành tích mà khi nghe ai cũng cảm thấy có gì đó không thực chất, 100% học sinh đạo đức khá-tốt, 99% tốt nghiệp phổ thông…là rất khả nghi và có nghĩa là không khiêm tốn bởi sự thật thà luôn song hành với khiêm tốn. Ở các buổi tổng kết của các cơ quan khác cũng vô số những ngôn từ có cánh -  cánh rất dài - được coi là phải tung ra để biểu dương và động viên mọi nơi! Khi còn đi dạy, lần nọ tôi được lãnh đạo mời lên văn phòng giao công việc. Sau khi nói lời động viên làm cho chính tôi phát ngượng, lãnh đạo nói “Thầy làm giùm em, có gì khó khăn báo cáo để ban GH chỉ đạo tiếp”. Tôi hối hận vì những năm trước đó tôi đã lơ là không giáo dục cho người học trò này đức khiêm tốn! Tôi có một suy nghĩ mong được chia sẻ. Rằng bao giờ người VN nói "Không dám" khi người nước ngoài nào đó ca tụng lịch sử, văn hóa...nước ta thì bấy giờ người được khen mới thật sự hưởng hạnh phúc là người của một đất nước anh hùng! Và nhất là mong trên trái đất này đừng ai vỗ ngực xưng danh anh hùng cho đất nước mình! Hình như khiêm tốn là vĩ đại!
       Khiêm tốn được gọi là “đức”, có điều chưa một quy định thành văn nào minh định đó là nghĩa vụ, tại sao? Câu hỏi này khó trả lời một khi xã hội còn chạy theo hư danh, chạy theo ảo tưởng và thiếu những con người được giáo dục chu đáo bởi một nền giáo dục lấy sự thật làm nền tảng và mục tiêu, “Tiên học lễ” chỉ mới được kẻ thành khẩu hiệu đầy tính hình thức trong những năm rất gần đây.