Thứ Tư, ngày 23 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Một thời hoang vu Ấp Bắc



Cao Thoại Châu
MỘT THỜI HOANG VU ẤP BẮC

* Gửi Đỗ Ngọc Minh


Khó quên vùng đất nhão nhè
Khi chiến tranh vừa chấm dứt
Một bên thắng và những người thua
Bắt đầu cởi botte de saut đi chân đất

Xung quanh là nỗi nhớ nhà
Của đám bạn bè vừa mới thay y phục
Của một tương lai nằm trước mắt
Mà trông chẳng rõ được điều chi

Của nhão nhè mỗi bước chân đi
Những cây cầu tre dài như vô tận
Không phải trường giang nên sống đến bây giờ
Thời buổi nào cũng có người sống sót

Xung quanh là vô số những hố bom
Dấu tích một thời không muốn có
Hết chiến tranh thành ao nuôi cá
Cá vô tình chẳng chọn phe ai

Trăng lờ mờ soi cánh ruộng mênh mông
Gối đầu lên tay cố tìm dăm tiếng động
Chỉ có một vầng trăng không đủ sáng
Và xung quanh nồng nặc mùi bùn

Giật mình, đã hơn ba mươi năm
Hố bom cái nào còn cái nào đã lấp
Những đêm trăng hoang vu Ấp Bắc
Tiếng cá khuya đớp bóng có còn không?
23-7-2014

Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014

* Tạp chí Sáng Tạo, trong ký ức người đọc


Tản mạn
TẠP CHÍ SÁNG TẠO,
TRONG KÝ ỨC NGƯỜI ĐỌC


    Tôi vừa 17 vào năm 1956, đã vào Sài Gòn sống được hơn một năm, đang đi học, đang làm quen với một thế giới khác qua giọng nói đầy phương ngữ, qua những món ăn chưa thấy bao giờ, qua cách sống dung dị với tờ giấy bạc xé đôi khi cần tiêu một nửa…Và, nhất là qua một bối cảnh lịch sử đang dường như thiếu thời gian cho sự đòi hỏi một vận động triệt để: cuộc chiến tranh chống Pháp đang loay hoay một cách lý giải tại đô thị miền Nam. Và với một đứa bé có chút máu mê văn chương thì đó còn là bắt đầu một quá trình làm quen với những “luống cày” văn học mà người cày không ai khác hơn là nhóm Tạp chí Sáng Tạo.
     Trên nửa thế kỷ đã đi qua, những biến thiên lịch sử, xã hội mà tôi bị cuốn vào đó đã san lấp ký ức tôi, có thể nói đã một lần phá hủy tôi khi mà sách báo gom góp bao nhiêu năm (trong đó có Sáng Tạo) đã phải nộp để đốt theo lệnh nhà chức trách trong năm 1975. Bây giờ còn gì chăng chỉ là ký ức có phần mòn mỏi nhưng tôi nhất quyết níu lấy nó khi viết bài này thay vì có thể tìm vào một thư viện nào đó…
     Tháng 10 - 1956, Tạp chí Sáng Tạo ra đời tại Sài Gòn như một sự "nổi loạn", một "chất nổ phá đổ cái cũ, tạo dựng cái mới" mà ngay cả hình thức trình bày, ấn loát cũng vậy. Trên Sáng Tạo xuất hiện những tên tuổi chưa một thời xuất hiện như nhà văn tên tuổi, họ từ miền Bắc vào trong cuộc di cư 1954  : Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Quách Thoại, Nguyên Sa…
        Họ tạo dựng cái mới như thế nào? Mai Thảo viết:"Những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ rứt thoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế. [...] Cái vấn đề lớn nhất của chúng ta bây giờ, trước sau vẫn là phải làm sao đoạn tuyệt được hoàn toàn với những ám ảnh và những tàn tích của quá khứ [...]. Công tác chặt đứt với những trói buộc cũ phải được đặt lên hàng đầu ... và thơ bây giờ là thơ tự do”. Thanh Tâm Tuyền định nghĩa nổi loạn: "Nổi loạn là một hành động đòi được gia nhập đời sống: Kẻ nô lệ đòi quyền sống như những người tự do. Như thế nổi loạn là điều kiện sáng tạo." (Những chi tiết này tôi lấy được trên Internet)
     Trên thực tế, Sáng Tạo đặt vấn đề một cách rốt ráo hơn so với Tự Lực Văn Ðoàn những năm 39 – 45. Văn chương không phải công cụ xã hội của âu hóa của một xã hội VN cũ kỹ, mà đã có suy tư là : Có thể có tác phẩm văn học hay không? Có thể có một cuốn tiểu thuyết, một kịch bản, một bài thơ được không? Chữ nghĩa có giá trị gì? Ðặt lại vấn đề viết, viết như thế nào? Lối viết kể chuyện, có cốt truyện, và cả lối viết hiện thực, tả chân kiểu Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng ... đã lỗi thời vì không đạt tới tận cùng tính cách chính xác và xác thực. Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền là một ví dụ về cách viết, cách đặt lại vấn đề viết.
     Tôi cũng tìm được sụ nhất trí với một tác giả viết tern internet: Thổi nguồn gió mới vào thời đại của họ, thay đổi bộ mặt văn học nghệ thuật, Sáng Tạo đã thành công trong việc hiện đại hóa văn học, đem hai dòng mạch lớn của thế kỷ XX vào văn học Việt: Dòng hiện sinh và dòng siêu thực, với những tính chất nền tảng: Hoài nghi và Mộng tưởng.
      Lớp người đọc 16, 17 chúng tôi đến đó bắt đầu biết đến Sartre, Camus, đến dấn thân, đến biện chứng của Sartre…Tôi không quên khi Sáng Tạo đang “vỡ đất” thì Nhất Linh xuống núi và tờ Phong Hóa Ngày Nay của ông tại Sài Gòn nhanh chóng thành tạp chí của..ngày xưa mà không một dòng điếu văn nào cả!
      Sáng Tạo đặt lại vấn đề một cách kinh ngạc cho bọn chúng tôi khi ấy. Tác phẩm văn học có phải chỉ là công cụ, phương tiện thực hiện những luận đề như cả ngàn năm trước kia? Hay nó chính là cứu cánh? Có thể có một cuốn tiểu thuyết, một kịch bản, một bài thơ được không? Chữ nghĩa có giá trị gì? Ðặt lại vấn đề viết . Viết như thế nào? . Tác phẩm không cần kết luận, mà tác phẩm trình bầy một biện chứng, một thẩm mỹ của sự dang dở, mở cửa cho những suy nghĩ khác và sẵn sàng chờ đón những nối tiếp về sau.
     Tác phẩm không còn nhiệm vụ khơi gợi cảm xúc và làm mủi lòng theo nghĩa lãng mạn, mà tác phẩm gây nỗi đau, gây khó chịu bằng nhận thức. Sáng Tạo là một khúc quanh văn chương lớn lao và cũng là khúc quanh gấp.
   Trước nó, văn chương tại chỗ (tôi nghĩ Hồ Biểu Chánh là đại diện) loay hoay những mối tình éo le, mùi mẫn, nhân vật phần đông cam chịu dưới một tâm lý hời hợt mà không có bi kịch. Và dòng văn chương Tự Lực văn đoàn thì đến khi đất nước chia đôi dọn vào miền Nam cũng chỉ còn biết tá túc trong những ngày tàn của môt thứ văn chương luận đề mà vào hoàn cảnh mới đã không còn “chính nghĩa” nữa. Có một nửa nước với một chế độ chính trị xã hội mới thì cũng đòi hỏi tự do sáng tác và đổi mới tư duy văn học trổi dậy phù hợp. Có vẻ như đã có khuynh hướng quên đi văn chương 9 năm chống Pháp, tôi nghĩ động cơ không phải chính trị mà là do khao khát cái mới mà nhóm Sáng Tạo là thành phần chủ công tuy có “xa rời quần chúng” nhưng lại được chính quần chúng đón nhận, ít ra cũng là thành phần “ưu tú” của quần chúng văn học thời đó.
     Ngày ấy và đến bây giờ, với tôi nhân vật đình đám củaSáng Tạo - như một nhân vật tiểu thuyết – không ai khác hơn Thanh Tâm Tuyền, cái đáng nhớ là ở chỗ ông vừa đột phá về tiểu thuyết vừa tiên phong khai phá thơ tự do.
     Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền hoàn toàn phá bỏ những cấu trúc như lối thơ cũ và quan niệm nghệ thuật theo tinh thần Dionysos nổi loạn chống lại sự hài hòa theo tinh thần Apollon. “Người làm thơ không tạo những hình dáng cho cuộc đời vốn đã là một hình dáng, họ muốn nhìn thực tế bằng con mắt trợn tròn, căng thẳng phá vỡ hết mọi hình dáng để sự vật hiện ra với cái thực chất hỗn loạn không che đậy."  Đó là những câu ông viết năm 19 tuổi (1955), mà các nhà phê bình xem như là tuyên ngôn về thơ tự do. Thanh Tâm Tuyền quan niệm rằng: "Thơ tự do không gieo vần lối đồng âm, đồng thanh, vần của nó là vần ẩn giấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó là sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trong một số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác". Ngoài ra ông còn đề cập đến loại nhịp điệu của hình ảnh và ý tưởng, nói chung đó là nhịp điệu của ý thức.(Từ Internet)
     Trong thơ ông còn dùng kỹ thuật tạo hình lập thể và siêu thực: coi đời sống là những mảng đứt đoạn, thực tại là một chuỗi liên tục những mảng đứt đoạn ấy và tiềm thức là nguồn sáng tạo vô biên.
    Gần đây tôi đọc được nhận định của một người rằng Thơ Thanh Tâm Tuyền thường không phải là tiếng nói hay lối suy tưởng thông dụng và những hình ảnh quá khác biệt đặt cạnh nhau trong thơ ông theo kỹ thuật tạo hình siêu thực khiến người đọc khó thấy hết ý nghĩa ẩn dụ chứa trong đó:
Đêm giao thừa thế kỷ mưa rơi sao
mái sáng đường nằm chiêm bao biển giận dỗi
bàn tay mây mắt trăng môi nhiệt đới
Đó là những hình ảnh khác lạ chưa bao giờ thấy trong thi ca Việt Nam: Đêm giao thừa thế kỷ, mưa rơi sao, ..., bàn tay mây, mắt trăng, môi nhiệt đới. Và những hình ảnh thật đẹp, ta đã quá quen thuộc cũng xuất phát từ thơ ông: đêm màu hồng, lệ đá xanh, nắng thủy tinh ... : "Hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền là người dẫn đường, người tiên phong đem siêu thực vào Việt Nam một cách có hệ thống và đã tạo ra những câu thơ mới nhất, giàu hình ảnh nhất trong thơ Việt". Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đã phẫn nộ, đau đớn, mong được khóc la, được run giận, ... bằng chính thể xác của những cặp uyên ương trong thành phố Budapest để thông cảm đến tận cùng những nỗi thống khổ vô biên của họ:
Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác
. . . .     
Hãy cho anh la bằng cổ em  
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói   
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai   
. . . .
Hãy cho anh chết bằng da em 
Trong dây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em     
Hỡi những người kế tiếp
lời thơ giản dị nhưng cách diễn tả mới lạ, vần điệu biến mất chỉ còn là hình ảnh, những câu thơ dài ngắn khác nhau hầu như được sắp xếp theo những ảnh tượng và cảm xúc trào dâng trong tâm hồn tác giả mà tác giả cho đó là loại nhịp điệu của ý tưởng, của hình ảnh. Đây là bài thơ tự do thật hay, gây xúc động mạnh và được nhiều người yêu thơ thời đó truyền tụng, đọc thuộc.
   Thơ Thanh Tâm Tuyền đầy tình nhân ái. Giọt lệ sầu thảm của những kẻ cô đơn cứ chảy mãi, chảy mãi trong đớn đau đến hóa thành những viên đá xanh và tim của những viên đá ấy cũng phải rũ rượi! Đó là những hình tượng đẹp trong thơ văn:
Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không   
lệ là những viên đá xanh   
tim rũ rượi   
Tổ quốc, trời xanh nín lặng; cuộc sống không lối thoát bủa vây và bóp chết mọi hy vọng, tuổi trẻ thì quá buồn; những kẻ yêu nhau đôi lúc phải tìm cách trốn thoát thực tại, trốn thoát những dày vò khổ đau sẽ đến trong những ngày sắp tới:
Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa
Đi đi chúng ta đến công viên       
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối       
Ôi môi em như mật đắng       
Như móng sắc thương đau
Đi đi anh đưa em vào quán rượu       
Có một chút Paris       
Để anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội       
Anh là thằng điên khùng
ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới.
Chiếc kèn hát mãi than van      
Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Tuổi trẻ sao quá buồn       
Như con mắt giận dữ
Tuổi trẻ sao quá buồn
như bàn ghế không bầy
Thôi em hãy đứng dậy       
Người bán hàng đã ngủ sau quầy       
Anh đưa em đi trốn       
Những dày vò ngày mai.
     Đọc thơ Thanh Tâm Tuyền là đi vào những thiên đường của dĩ vãng, của hoài niệm và ký ức.  Ông quả thật là mang tâm hồn thi sĩ đa tình, mẫn cảm. Dòng thơ của ông đem đến cho ta muôn vàn cảm xúc giản dị và gần gũi. Xét cho cùng nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đã cống hiến cho nền văn học Việt Nam những dòng thơ tràn ắp thi vị thi ảnh, được viết lên từ những khát vọng của tự do, từ những cái nhìn linh cảm về những chặng đường của cuộc đời mà ông đã đi qua ( Internet)
 Về nội dung chính yếu, chất liệu trong thơ văn Thanh Tâm Tuyền là ý thức thất bại. Thất bại của con người trước định mệnh nói chung, cụ thể là sự bất lực của giai cấp trí thức tiểu tư sản Việt Nam trước thời cuộc. Viết văn, làm thơ, làm nghệ thuật nói chung, là cố gắng vượt qua sự thất bại đó, biến nó thành nghệ thuật.
*
Bếp Lửa là một truyện vừa đầu tay của Thanh Tâm Tuyền. Truyện được viết từ ngôi thứ nhất “tôi” tên Tâm, dạy tư thục ở Hà Đông, khoảng 1952.
    Không phải là tự truyện, nhưng Bếp lửa phản ánh tâm trạng tác giả, và một số thanh niên đồng lứa vào thời điểm trước hiệp định Genève 1954, tại Hà Nội, và vùng phụ cận dưới sự kiểm soát của Pháp. Chủ yếu là những nét chấm phá nhẹ nhàng, nhưng rất sắc về tâm thức chính trị của con người lúc đó qua những nhân vật: ông Chính, đảng viên Quốc dân Đảng, còn hoạt động; Bảo có tham dự phong trào Ngũ xã nhưng nay đã tuyệt vọng; Đại say đắm chủ nghĩa mác-xít và chuẩn bị ra khu; Hoà nhân viên Phòng nhì; Ngọc hoàn toàn hư vô và chối từ tổ quốc… Giữa họ là những nhân vật nữ, hiền lành, vô tội, như chị em Thanh và Minh, em họ Tâm; Hạnh; Thịnh vào ra giữa hai vùng… Còn Tâm? Anh xê dịch giữa đám người đó, không thân không sơ, và nói như Meursault, nhân vật Người xa lạ : không biết rõ mình muốn gì, nhưng biết rõ những điều mình không muốn. Khi Tâm bị ông hiệu trưởng cho thôi việc, “ngạc nhiên một chút rồi tôi không hỏi vì cớ gì ông muốn tôi nghỉ việc cũng như ông đã quên không nói cho tôi biết… Tôi cũng chẳng buồn quan tâm. Tôi nhẹ nhõm vô cùng và ngủ một giấc rất say” Trong thế giới ấy, quan hệ tình cảm cũng mong manh, sắc sắc không không, như giữa Tâm và Thanh, một cô em họ, cũng mồ côi cha mẹ. «Đôi khi tôi nghĩ tôi có thể yêu Thanh và che chở cho Thanh, giây thân thích giữa cúng tôi không đáng kể (…) nhưng chưa bao giờ tôi nói ý nghĩ của tôi cả”.
   Quan hệ tính dục cũng nhẹ nhàng thôi. Tâm gặp lại Hạnh, “chúng tôi cùng đi ăn cơm với nhau. Và đêm ấy tôi ngủ với Hạnh ở khách sạn” . «Gần nhau, tôi nhận thấy chiến tranh – hay chỉ cần sự đe doạ của chiến tranh, tổng quát là sự khủng bố tinh thần – đã thổi vào máu Hạnh sự say đắm nhiệt tình trong yêu đương (…).”.
     Vào năm 1965 khi truyện ngắn Dọc Đường của nhà văn Thanh Tâm Tuyền ra đời thì thời điểm này cũng là khi các thành thị lớn nhỏ của Sài Gòn bị lọt thỏm trong chiến cuộc mà ngày và đêm trở thành ranh giới cho không ít những phận người. Lúc ấy tôi 26 tuổi, và đọc “Dọc Đường” với một cảm giác rùng mình nổi da gà, 49 năm qua đi nhưng đến nay cảm giác ấy vẫn còn rất sắc sảo.
      Không gian và cảnh tượng chỉ là một buổi chiều chạng vạng ở một dãy phố chợ tạm bợ nằm dọc quốc lộ chạy qua một khu rừng cao su. Và cũng như cái không gian không tên riêng, những nhân vật của “Dọc Đường” cũng chỉ được gọi theo giới tính, độ tuổi... hoặc một nét nhận dạng bất kỳ nào đó. “Người đàn ông ngồi ngoài cùng kế cây cột chống, mặc áo lá quần xà lỏn, một chân co lên ghế, tay bưng ly cà phê uống từ hớp nhỏ. Người đàn ông liền bên vận quần áo kaki sờn rách, đầu đội nón bẻ vành, chân đi giày không vớ, cầm chiếc muỗng nhỏ xíu gõ nhịp lên bàn. Người ngồi tách riêng một phía già hơn hết, tóc tiêu muối, vận quần lnh đen bám bụi đỏ, áo túi trắng ngả màu.”
       Sống ở cái nơi như thế, trong bối cảnh cuộc chiến tranh đã tới hồi gay cấn, điều quan tâm của nhóm người này là một... con đường có những chuyến xe đủ loại chạy qua biểu hiện của sự thông suốt liền lạc mà bất cứ lúc nào cũng có thể không còn như thế. Vào thời buổi ấy, trời càng về chiều xe càng chạy bán sống bán chết cho kịp tránh bóng đêm khi đường , rừng được “bàn giao”. Không khí chiến tranh được dẫn vào truyện đơn giản như một thói quen chờ đợi như vậy. Nghệ thuật hiển thị sự việc của Thanh Tâm Tuyền là rất điêu luyện, chúng cứ lộ diện từ từ từng chút một, từ câu nói vu vơ “Tối nay thế nào cũng có hành quân” đến “Đậu cái này rồi về tía” ,“Tụi bay tuột dù hết rồi. Máy bay trực thăng đó.” Toàn là những lời vô tư ngắn gọn phục vụ đánh bài như thế. Vài phút sau, tiếng động cơ nổi rõ hơn, tới gần... Chiếc trực thăng bay sà thấp ngang qua quán. Hai người dân vệ từ trong lối xóm trở ra, chân mang giầy bó túm ống quần bám sình vì bụi đất: một người đeo súng hai tay bưng trên miệng húyt vào chiếc lá tre non kêu chít chít từng hồi như tiếng chim, một người quàng hai tay trên hai đầu súng đặt nằm ngang cần cổ ngó phía trước, cả hai mặc đồ đen đội những chiếc nón vải đen có lưỡi. Lính chuẩn bị co rút vào đồn vì đã tới giờ bóng đêm không là của họ, còn một số người dân thì sửa soạn về ngủ tạm tại một thành phố gần đó, như loài chim di trú trốn tuyết. Người đàn bà không có cái ưu tiên...được sợ chết này, nói với chồng:
- Mấy cha chỉ bầy chuyện đi chơi không à!
- Tao là đàn ông mầy nghe chưa? Ở nhà để lỡ như lần trước... Tao ở nhà… Đ. m. thứ đàn bà ngu!
Ngay lúc ấy một chiếc xe có thể là cuối cùng từ từ đi qua hết đoạn đường rào kẽm gai đậu trước quán hớt tóc. Người lơ xe nhảy xuống đất kêu vô trong:
- Xuống lẹ lên cha nội. Một người đàn ông tay ôm bọc giấy dầu, lom khom bước xuống. Tới đất, người đàn ông lại muốn trở lên, nói
- Không phải đây…
     Và chuyện bắt đầu.
     Chiếc xe đò rồ ga chạy thẳng vào. Người đàn ông đứng lại bên đường ngơ ngác. Hắn vận bộ bà ba đen, chân đi săng-đan, tóc cắt ngắn, mặt mũi gồ ghề xanh xao. Hắn ngửa mặt nhìn lên trời trông chiếc trực thăng từ phía rừng cao-su bay tới, đứng im rồi hạ thấp trên bãi trống bên kia đường. Một vài người nhìn thấy người đàn ông bận bà ba đen ôm bọc giấy dầu đứng trước quán hớt tóc.
     Anh ta đi dần và dừng lại trước nhiều căn nhà mong tìm một chốn nương thân qua đêm. Nhưng nào có ai chứa anh ta? Hai chiếc xe be kềnh càng rần rần từ trong rừng cao-su, xe chạy chậm. Người đàn ông đưa tay lên cao vẫy kêu: Cho quá giang… Hai người tài xế đưa tay vẫy chào và xe vẫn chạy.
Người đàn ông thất vọng lẩm lũi trở vô quán. Người đàn bà chủ quán hỏi
- Chú ở đâu tới?
- Tôi đi kiếm thằng em của tôi làm đồn điền cao-su. Nhưng cái khổ là anh ta không nhớ tên nơi mình muốn đến.
- Chú nói chuyện trời đất không à. Bộ khi không chú ngồi đó không cho tôi đóng cửa tiệm đi ăn cơm hả? Chú tính chuyện gì?
Người đàn ông sửng sốt, giật hai tay ôm gói đồ vào bụng ngó trân người đàn bà:
- Thím cho tôi ngủ đậu. Thím làm phước. Người đàn bà kêu lên:
- Đâu có được chú... Biết chú là người thế nào mà cho ngủ đậu. Lỡ đêm chú cắt cổ tôi sao? Người khách lạ, nhìn mọi thứ, là một người lương thiện bị đánh đồng với những kẻ bất lương bởi người ta sợ hãi hơn là dành chỗ cho lòng nhân ái
- Tôi đi đâu? Thím nghĩ coi…
- Tôi không biết. Mấy người rắc rối lắm.
Người đàn ông ngập ngừng bước ra khỏi quán tiến tới bên cửa một tiệm sửa xe. Và điệp khúc lặp lại, lộ rõ hơn anh ta là kẻ lỡ độ đường
- Anh Hai cho tôi ngủ đậu. Dưới đất cũng được. Mơi tôi đón xe về sớm.
- Bộ anh cho là tôi khùng hả. Cha này kỳ quá…
Ngoài rừng trời chạng vạng nhá nhem. Người đàn ông đi tới bên lề đường. Một vài tiếng đại bác nổ ầm ở xa. Hắn gõ nhẹ lên cánh cửa rồi nghe ngóng... Trời cứ tối dần. Người đàn ông cúi nghiêng xuống ngang mặt với lỗ hổng:
- Tôi lỡ độ đường(CTC nhấn mạnh)
     Một tiếng nổ ầm rung chuyển đất. Lỗ hổng đóng xập lại và tiếng chân chạy trong các nhà, Mọi cửa đều đóng vội. Những tiếng nổ tiếp theo còn cách xa. Người đàn ông dáo dác ngó ra đường. Trên trời phía rừng cao su trái hỏa pháo bắn vọt lên lơ lửng vài phút rồi tắt. Tiếp theo một trái hoả pháo khác. 
         Người đàn ông đứng ôm bọc giấy bên lu nước .           
       Tôi còn trong ký ức mấy câu thơ Thanh Tâm Tuyền :
        Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuồng dòng sông 
        Mà lòng mình phơi trên kè đá 
        Chiều không xanh không tím không hồng 
        Những ống khói tàu mệt lả
        Ngày ấy, tôi cứ lẩm nhẩm những câu thơ có hình ảnh tuyệt vời này và  không làm sao quên câu nói của nhân vật trong truyện ngắn Dọc Đường : “Tôi lỡ độ đường”. Bây giờ đây tôi có thể nói được câu nào khác hơn những câu ấy?
CTC 6-2014


Thứ Bảy, ngày 19 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC: Khi chia tay mới biết đã gặp Phù Hư


Cao Thoại Châu
KHI CHIA TAY MỚI BIẾT ĐÃ GẶP PHÙ HƯ


Sao đời lại trùng tên với bạn
Có chăng vì ưa bút hiệu này không
Bạn có tức khi đời hư ảo
Mang trăm thứ phù hư núp dưới chân mình

Can bạn đừng làm chi nóng giận
Buồn quanh thân như thế cũng đủ rồi
Tên bạn nói trăm điều đáng nói
Đoàn đông người tụ lại chung vui

Thời thơ ấu chơi trò cút bắt
Nơi trốn nào cho được yên thân
Nước xà bông thổi thành bong bóng
Bong bóng tan nhanh dù đẹp vô cùng

Bạn chơi trò văn chương chữ nghĩa
Chữ cái không nhiều mà sức mạnh vô biên
Vô biên hay chỉ là trò hư ảo
Nhân vật hay là hình nộm tô son

Hình nộm đi đâu khi mùa dưa đã hết
Chim bay đi nơi khác kiếm mồi
Chim cũng biết đời là hư ảo
Lưng trời buông tiếng hót không vui

Và một hôm qua bến sông buồn
Trời u ám như trời đang giải thể
Sông tan tác sóng không lên được nữa
Bạn chọn cho mình hai tiếng Phù Hư?
19-7-2014

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 7 năm 2014

* TẢN MẠN : Khiêm tốn là một nghĩa vụ, bao giờ?





KHIÊM TỐN LÀ MỘT... NGHĨA VỤ - 
BAO GI?

Từ thời còn rất nhỏ sống chung với đại gia đình ở một làng quê tôi đã nghe, luôn luôn được nghe hai chữ “Không dám” trong các câu trả lời của người lớn với nhau. Khen cái gì đó thuộc phạm trù đạo đức, phẩm hạnh của ai đó là đẹp thì người khen không thể không được nhận hai tiếng “Không dám”, không phải là lời chối từ hay phủ nhận mà chỉ là biểu lộ sự khiêm tốn trong giao tế. Hình như với những lời khen nhắm vào một vật cụ thể (xe, nhà, áo…) thì người được khen không cần đáp lại như vậy. Hóa ra sự khiêm tốn luôn phải gắn với lãnh vực tinh thần, nó là một phần của lãnh vực này.  Tôi không nghĩ đó là khách sáo, mà cho là khi được khen mà mình yên lặng nghe thì có vẻ thô thiển và tự cao quá! Sự khiêm tốn là một nghĩa vụ bất thành văn, nó làm cho quan hệ giữa người với người trở nên dễ chịu hơn, đẹp hơn!
      Nhưng nay, ngày càng có nhiều nghĩa vụ đặt trên vai một người nhất là trong tư cách một công dân. Anh phải tuân thủ pháp luật và các quy định hành chính mà ngày càng nhiều đến nỗi không khả thi và chồng chéo. Không được hút thuốc nơi công cộng là một nghĩa vụ thả nổi. Không được bán thịt quá 8 giờ sau khi giết mổ, tuy khôi hài và ngớ ngẩn nhưng cũng là nghĩa vụ bởi đó là quy định của pháp luật! Thật khó lòng thống kê được hiện có bao nhiêu nghĩa vụ thành văn dành cho một công dân bởi vì có quá nhiều quy định. Trong khi “nghĩa vụ” khiêm tốn thì lại quá thiếu thậm chí chỉ là tự giác của những cá nhân được giáo dục chu đáo!
        Tôi nghe kể, ở một quán nhậu bình dân vỉa hè nọ nằm tại đầu con hẻm, đêm đêm ma men cứ thản nhiên xả thải vào bức tường bên hông căn nhà đối diện. Chủ nhà ngộp thở bèn viết mấy chữ “Xin đừng phóng uế”. Xin dễ gì cho thế là “Cấm đái” nhưng lấy quyền gì cấm? Chủ nhà tức quá bèn trổ tài nghệ thuật vẽ một con dao bầu lên tường, nhưng ma men biết con dao đâu dám gây án, vả nó là dao ảo làm sao xử được vật thật? Cuối cùng chủ nhà bèn lấy mấy viên gạch chồng lên nhau như hình một cái miếu nhỏ tí, có một bát hương cứ tối là khói bay nghi ngút. Một ma men ra, trước khi hành sự anh ta chợt nhận ra hương khói bèn sợ hãi ngừng lại nhưng không kịp và…tè cả ra quần! Chủ nhà nói nhờ mấy nén nhang thắp lên mỗi tối mà môi trường không còn bị ô nhiễm nữa! Cái thống khổ của một căn nhà thế mà không chấp nhận cho khổ chủ nói lời khiêm tốn mà bắt người ta cậy đến thần linh!
       Khen một bài thơ trước mặt tác giả thường lời khen đi tuốt vào lòng tác giả mà không có hồi âm, mấy ai nói “không dám” trong trường hợp này? Nhưng sẽ là dại dột nếu coi thơ người mà không nói một lời khen dù thật sự thì đó là thơ “đọc được” vì…viết bằng tiếng Việt!
       Trong các buổi tổng kết của các đơn vị từ giáo dục, hành chính đến đủ loại khác, không những đã không thành nghĩa vụ mà khiêm tốn còn mọc cánh bay đi chỗ khác chơi. Người ta thiếu khiêm tốn ngay trong ngôn ngữ giới thiệu các nhân vật tham dự, giới thiệu không sót người nào với đầy đủ mọi chức vụ mà người này có, và được lặp lại đầy đủ mỗi khi nhắc đến người này. Rồi những con số thành tích mà khi nghe ai cũng cảm thấy có gì đó không thực chất, 100% học sinh đạo đức khá-tốt, 99% tốt nghiệp phổ thông…là rất khả nghi và có nghĩa là không khiêm tốn bởi sự thật thà luôn song hành với khiêm tốn. Ở các buổi tổng kết của các cơ quan khác cũng vô số những ngôn từ có cánh -  cánh rất dài - được coi là phải tung ra để biểu dương và động viên mọi nơi! Khi còn đi dạy, lần nọ tôi được lãnh đạo mời lên văn phòng giao công việc. Sau khi nói lời động viên làm cho chính tôi phát ngượng, lãnh đạo nói “Thầy làm giùm em, có gì khó khăn báo cáo để ban GH chỉ đạo tiếp”. Tôi hối hận vì những năm trước đó tôi đã lơ là không giáo dục cho người học trò này đức khiêm tốn! Tôi có một suy nghĩ mong được chia sẻ. Rằng bao giờ người VN nói "Không dám" khi người nước ngoài nào đó ca tụng lịch sử, văn hóa...nước ta thì bấy giờ người được khen mới thật sự hưởng hạnh phúc là người của một đất nước anh hùng! Và nhất là mong trên trái đất này đừng ai vỗ ngực xưng danh anh hùng cho đất nước mình! Hình như khiêm tốn là vĩ đại!
       Khiêm tốn được gọi là “đức”, có điều chưa một quy định thành văn nào minh định đó là nghĩa vụ, tại sao? Câu hỏi này khó trả lời một khi xã hội còn chạy theo hư danh, chạy theo ảo tưởng và thiếu những con người được giáo dục chu đáo bởi một nền giáo dục lấy sự thật làm nền tảng và mục tiêu, “Tiên học lễ” chỉ mới được kẻ thành khẩu hiệu đầy tính hình thức trong những năm rất gần đây.



Thứ Ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Chập choạng bước đi cùng ký ức



Cao Thoại Châu
CHẬP CHOẠNG BƯỚC ĐI CÙNG KÝ ỨC
  

Tuổi thơ tôi lên chín lên mười
Thiếu thước tấc đo niềm sợ hãi
Mùa đông hai hàm răng tê tái
Cắn vào nhau không biết tự bao giờ

Chiếc ổ rơm khó ngăn gió bấc
Như lưỡi dao cứa thịt da người
Thiếu hơi ấm - thiếu trang cổ tích
Đêm dài như thể khó lòng vơi

Cứ thế lớn lên vì tự nhiên phải lớn
Cây cỏ vô tri không khác vậy bao giờ
Lớn và thấy. Tự nhiên phải thấy
Bao điều tươi thắm tự phôi pha

Đường vào La Mã có nhiều con
Con nào cũng trải đầy gai góc
Tuổi thơ tôi lớn cùng sự thật
Sự thật là con đèo dốc chênh vênh

Có điều muốn nói với anh em
Như trái ổi cho đứa bạn thời thơ ấu ấy
Trái chưa chín bởi tôi như vậy
 cành chỉ có trái cây xanh

 trên đường đi vào cuộc sống
Tôi đặt chân vào những chỗ sa lầy
Đôi lúc thành khúc sông chảy ngược
 người nào ngoài chiếc bóng riêng tôi ?
15-7-2014

Thứ Hai, ngày 14 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC: Tinh mơ thúc dậy giữa im lìm


Cao Thoại Châu
TINH MƠ THỨC DẬY GIỮA IM LÌM

                                                       Giờ này chỉ có mình ta
                                         Loài người chưa thức hóa ra một mình!


Trong yên lặng chợt nghe tiếng động
Của con mèo hàng xóm tìm nhau
Đời sinh vật không có người tình tự
Tất nhiên là cô độc biết bao nhiêu

Tiếng gà kêu bên nhà hàng xóm
Gà trống kêu to gà mái im lìm
Người bị nhận chìm trong yên lặng
Không còn gì có thể quạnh hiu hơn

Ngọn gió núi gõ cửa nhà buổi sáng
Lạnh đá theo về khác lạnh trái tim ta
Ở đâu đó vừa có cơn ly biệt
Gió đi không quay lại núi bao giờ

Một mình lênh đênh trên chiếc ghế
Cá bơi quanh và sóng vỗ lên ghềnh
Bốn phía không có con tàu nào khác
Quả tình đời cũng rất cô đơn!
14-7-2014


Thứ Ba, ngày 08 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Người nước tôi



Cao Thoại Châu
NGƯỜI NƯỚC TÔI


Người nước tôi là những người hay hát
Hát theo cánh cò bay khắp tây đông
Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng
Bài ngụ ngôn ấu thơ tôi đã học

Và không đâu trên trái đất này
Nhiều đá vọng phu như nước tôi đã có
Khi đau khổ không thèm rơi lệ
Mà rơi vào cõi nhớ muôn năm

Trong tim tôi vạt áo bọc vui buồn
Dăm bơ gạo giữa mùa đông giá
Mẹ chưa về bếp chưa đỏ lửa
Lãng mạn tình nghèo đùm bọc lấy nhau

Người nước tôi da ngà mắt đen
Tóc bồ kết lớn dần theo khăn vấn
Mỗi sợi tóc đều có mùi của biển
Của chiếc ao nhà nuôi đất mấy ngàn năm

Nước da ngà như tôi đã học
Sạm dần đi trước những âu lo
Muộn phiền với bao nhiêu vất vả
Sỏi đá theo người cũng sạm dần theo

Người nước tôi hôm nay khấp khểnh
Như chiếc xe bò trên đường sống trâu
Da sạm thêm trong ánh sáng chiều
Đường vào thôn gió thổi tung bờ tóc

Cánh võng trên thềm và mộ chí cha ông
Điểm nhấn trong tâm hồn con cháu
Mộ tổ tiên là pháo đài sáng trưng gươm giáo
Thế trận đồ ở cạnh cháu con
8-7-2014


Thứ Hai, ngày 07 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Một buổi về rừng


Cao Thoại Châu
MỘT BUỔI VỀ RỪNG


Về lại núi non chiều sương phủ
Đá vẫn xanh vì rêu bám quanh mình
Tôi cũng đứng mặc tình cho bám
Không là rêu mà một thứ không tên

Lên núi làm con chim con vượn
Hót xua đi những nỗi thăng trầm
Nhìn xuống đồng bằng không còn đó nữa
Loài người cũng tuyệt tích xa hơn

Lên núi chìm trong sương khói núi
Đá này vô cảm đá kề bên
Ở một nơi không còn tiếng nói
Hiểu điều này tôi cũng lặng thinh luôn!
8-6-2014


Thứ Năm, ngày 03 tháng 7 năm 2014

* TẢN MẠN: Văn hóa "lai rai" của người Nam Bộ

Nướng cá lóc ngoài  l
Ảnh : Internet














VĂN HOÁ "LAI RAI" 
CỦA NGƯỜI NAM BỘ

   Tính thống nhất là cái đại thể cao của người Việt Nam cả về ăn cũng như nói. Nhưng tính vùng miền, tính đặc thù cũng là một mặt nổi bật ở nước ta thể hiện trong ăn và nói. Lãnh thổ phát triển theo chiều dài trong một quá trình diễn ra khá lâu, với hai vùng miền một khai thác lâu đời, một do khẩn hoang về sau và còn trẻ là lý do giải thích tính vùng miền này bên cạnh sự khác nhau về khí hậu, đúng hơn là về thời tiết.
       Địa hình Nam Bộ nhìn chung bằng phẳng, thiên nhiên không nhiều bất trắc , sông ngòi chằng chịt, phù sa màu mỡ cùng với khí hậu nóng ẩm quanh năm mà nước là yếu tố tự nhiên lại rất phong phú. Từ đó, các sản vật từ nguồn nước và cây trái, rau củ quả xum xuê đa dạng tạo cơ sở cho các món ăn mang đặc thù rõ nét. Lại thêm tính cách người Nam Bộ phóng khoáng, ham vui, ăn trở thành một phong cách không mang tính tiệc tùng, khách khứa, mà ăn vì…vui!
      Người Nam Bộ đòi hỏi một “không gian ẩm thực” riêng so với Bắc Bộ. Nơi ăn không cần phải là căn phòng mà là không gian bên ngoài nó. Ăn trong phòng phải chịu giới hạn về thời gian bởi phòng là nhà ở của nhiều thế hệ với sinh hoạt khác nhau, còn với cá tính lai rai thì cần một không gian khác thoáng đãng hơn. Bờ ruộng tại sao không là nơi tụ tập “tự phát” vào một lúc ngẫu nhiên ngẫu hứng nào đó? Ở không gian này đồ ăn thường cũng ngẫu nhiên tìm ra được. Cày bừa bất ngờ túm được con cá lóc, vài chú ếch…rơm rạ bên cạnh, chỉ cần chút nước chấm và ít rau cũng quá dễ kiếm thế là có bạn đến kèm theo chai rượu, đủ một buổi “thực hiện văn hóa ẩm thực không gian”! Tá điền đang “làm văn hóa”, chủ điền đi qua và cái ham vui kết hợp họ lại với nhau một cách khá tự nhiên thoải mái!
     Là xứ sông nước thì sông nước cũng thành không gian ẩm thực, quá dễ hiểu. Người sống bằng thương hồ thường tụ ghe lại với nhau, những chợ nổi trên sông ngoài bán trái cây, tôm cá… không thể thiếu những chiếc ghe bé như chiếc lá tre lênh đênh hủ tiếu, bún, cà phê, bánh trái vốn có sức thu hút bạn hàng phụ nữ khá mạnh…Chợ Nam Bộ, đặc biệt ở nông thôn vốn là một “không gian ẩm thực” khá sinh động. Vào một chợ huyện, chợ tỉnh dễ thấy ngay cái nhà lồng dành nhiều diện tích của nó cho ăn uống, đi mua sắm gì thì rồi cũng ghé thăm nơi hấp dẫn có thể là nhất chợ này.
     Đấy là không gian ăn, còn món ăn Nam Bộ thì ai cũng biết là “tổng hòa những mối quan hệ nhiều loại thực vật” bên cạnh “át chủ bài” là cá, tôm, heo, gà vịt, chim, chuột, rắn, dơi…về miền Tây mà không biết đến thịt chuột, chim trời là một thiếu sót đáng…quay lại lần nữa ngay! Nam Bộ nóng quanh năm nên người ta có nhiều món canh dân dã. Canh chua cá linh nấu với bông so đũa, đậu rồng mùa nước nổi hay cá lóc phải là canh chua để “chống nóng” mới hữu hiệu, thế là me, khế, chùm ruột, soài sống, khóm được quy tập vào phục vụ! Lâu lâu có canh ngọt là canh tập tàng với nhiều thứ rau, cây hoang, nhiều khi không cần biết tên! Nhiều rau kể cả rau hoang nên món ăn Nam Bộ thường có cả một “rổ rau” đủ loại chua, chát và đôi khi là rau rừng cho…bảnh và lừng!
      Thú vị nhất trong ẩm thực vùng sông nước phương Nam là…cuốn và nướng! Cá lóc nướng, rắn nướng hay chim nướng hoặc bằm xào xả ớt, lòng bò… cuốn với rau sống, một ít cá trắng lí nhí cũng…cuốn. Nhờ cuốn và nhờ thêm nước chấm cay chua mà trở nên hấp dẫn cho việc “đưa cay” vốn rất sính ở đây! Đó là cách ăn của người khẩn hoang, giờ hoang đã khẩn gần xong thì thành cá tính, thành cái “gu” có sức hấp dẫn mê hồn. Trong một bữa lai rai có thể phát triển thành nhậu nhẹt của cư dân Nam Bộ thường có thêm dăm câu vọng cổ, một chút đờn ca thể hiện tính khoái hoạt không câu thúc. Và nhiều khi không thể thiếu... cự lộn, quá hớp thì đánh lộn! Chuyện kể rằng, bữa nọ chủ nhà mời mấy bạn sang sân nhà lai rai, nhân tiện cho thằng rể tương lai ngồi chung với cha chú. Đang nhậu, một người lỡ "xì hơi", thằng rể bèn chửi thề vu vơ, cha vợ bèn lấy chân đạp nhẹ lên chân chàng rể. Rể lại chửi thề bảo đã bậy bạ còn đạp chân người ta. Cha vợ tức quá, khi vào nhà trong bèn than với vợ. Lúc tiệc tan, mẹ vợ trách nhẹ con rể, rể quý hỏi lại " Thằng cha cà chớn nào thèo lẻo với má? ". Rượu nói rể đâu có nói, chả ai giận ai cả!
      Ẩm thực là văn hóa mà văn hóa đâu cứ nhất thiết phải từ thành thị vọng về, trái lại cái văn hóa hồn nhiên của người và đất nó từ vùng quê vọng lên, len vào thành được thì len, bằng không cứ “đất lề quê thói” mà tồn tại! Điều hệ trọng là chỉ có văn hóa "lai rai", còn nhậu nhẹt là một thói quen tệ hại, tệ ra sao xin hỏi CSGT hay tòa án thì rõ!

Thứ Tư, ngày 02 tháng 7 năm 2014

* Thơ CTC : Gửi những người bạn làm thơ


Cao Thoại Châu
GỬI NHỮNG NGƯỜI BẠN LÀM THƠ
  
  
Mà nay áo vải cờ đào
Bạn biết đấy, lời Ngọc Hân công chúa
Cành vàng lá ngọc gửi đời sau
Đâu chỉ với phu quân hoàng đế!

Đất nước nghèo dù giang sơn gấm vóc
Chân trần đánh giặc mấy ngàn năm
Đánh vì đó là thân trần sắt thép
Danh dự muôn đời chứa ở bên trong!

Bạn biết đấy, núi của ta không cao vun vút
Khói núi buổi chiều không phải bức tranh thơ
Nước hẹp sông đành vội vàng ra biển
Lục bát ca dao bám lấy đất tự bao giờ

Cờ Quang Trung là cờ đại nghĩa
Theo quân đi phần phật giữa trời
Nhanh sợ lịch sử theo không kịp
Đường quân đi một ngày lịch sử đã nhân đôi!

Tình rất đẹp bởi trái tim công chúa
Không dành cho một quân vương
Không hẳn đã trao cho một anh hùng
Nàng đã yêu một người yêu nước!

Tình yêu nước đã biến chàng Nguyễn Huệ
Áo vải cờ đào bọc lấy giang sơn
Minh quân không ngủ trên ngai vàng vương giả
Lịch sử những trang sau vẫn thức theo Người ?
2-7-2014