Thứ Ba, ngày 21 tháng 4 năm 2015

* Thơ CTC : Ngẫu hứng không tên

CTC/ NGẪU HỨNG KHÔNG TÊN


Đôi khi muốn có chút buồn
Mang vui ra đổi mà không dễ gì
Thế là buồn lại trôi đi
Ngẩn ngơ một chút lại về tay không!
20-4-2015

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 4 năm 2015

* Thơ CTC : Cám ơn Cụ, nhà văn Ngô Tất Tố










CTC/ CÁM ƠN CỤ, NHÀ VĂN NGÔ TẤT TỐ!


Tôi hiểu vì sao Cụ thành nhà văn
Quẳng bút lông đi viết Tắt Đèn
Đèn tắt rồi đêm trở nên đen
Nhìn rất rõ đôi bờ cuộc sống
Và tác phẩm như lời phủ định


Cám ơn Cụ, nhà văn Ngô Tất Tố
Đèn tắt rồi thấy trên lưng trên cổ
Trên cuộc sống mòn người dân Đông Xá
Những cuộc đời cát lở ven sông
Thấy người đàn bà bán con bán chó
Bọn dưới người rao bán lương tâm


Trên sự đói nghèo của những đôi chân
Tôi đã thấy no tròn lũ đỉa
Tôi thấy, thưa nhà văn tôi thấy
Điều  ngày xưa các Cụ không ngờ!


Mấy mươi năm sau khi Cụ tắt đèn
Đường phố có thêm nhiều ánh điện
Điện đi sâu trong hang cùng ngõ hẻm
Chan hòa trên trang giấy nhà văn


Đèn tắt, đêm nay đọc lại Tắt Đèn
Cám ơn Cụ, nhà văn Ngô Tất Tố!


Thứ Bảy, ngày 18 tháng 4 năm 2015

* Thơ CTC : Buổi tôi về



CTC
BUỔI TÔI VỀ

Tôi về đây, chai sần sỏi đá
Gió chênh vênh mỏm núi lưng đèo
Mưa rừng kín buổi chiều hiu hắt
Hồn tôi về cũng hắt hiu theo

Áo ngự hàn đã chớm sờn bâu
Không thất vọng như một trang hảo hớn
Mỗi cọng chỉ cột tôi vào bến
Trầm mình chết đuối giữa chiều xa

Mây lang thang gợi nhớ quê nhà
Bếp mùa đông ai hong cỏ úa
Có ai ngồi thương tưởng kẻ đi xa
Quằn quại khói vờn trên mái bếp

Tìm về sầu trắng cả hai tay
Trông tôi giống một trang sách cổ
Thời gian phai một phần nét chữ
Nghĩa còn nguyên theo với tôi về!


Thứ Hai, ngày 13 tháng 4 năm 2015

* CTC : Lai rai cùng người Nam Bộ





















LAI RAI CÙNG NGƯỜI NAM BỘ

*Gửi K.
          
Địa hình Nam Bộ nhìn chung bằng phẳng, thiên nhiên không nhiều bất trắc , sông ngòi chằng chịt, phù sa màu mỡ cùng với khí hậu nóng ẩm quanh năm mà nước là yếu tố tự nhiên lại rất phong phú. Từ đó, các sản vật từ nguồn nước và cây trái, rau củ quả xum xuê đa dạng tạo cơ sở cho các món ăn mang đặc thù rõ nét. Lại thêm tính cách người Nam Bộ phóng khoáng, ham vui, ăn trở thành một phong cách không mang tính tiệc tùng, khách khứa, mà ăn vì…vui!
      Người Nam Bộ đòi hỏi một “không gian ẩm thực” riêng so với Bắc Bộ. Nơi ăn không cần phải là căn phòng mà là không gian bên ngoài nó. Ăn trong phòng phải chịu giới hạn về thời gian bởi phòng là nhà ở của nhiều thế hệ với sinh hoạt khác nhau, còn với cá tính lai rai thì cần một không gian khác thoáng đãng hơn. Bờ ruộng tại sao không là nơi tụ tập “tự phát” vào một lúc ngẫu nhiên ngẫu hứng nào đó? Ở không gian này đồ ăn thường cũng ngẫu nhiên tìm ra được. Cày bừa bất ngờ túm được con cá lóc, vài chú ếch…rơm rạ bên cạnh, chỉ cần chút nước chấm và ít rau cũng quá dễ kiếm thế là có bạn đến kèm theo chai rượu, đủ một buổi “thực hiện văn hóa ẩm thực không gian”! Tá điền đang “làm văn hóa”, chủ điền đi qua và cái ham vui kết hợp họ lại với nhau một cách khá tự nhiên thoải mái!
     Là xứ sông nước thì sông nước cũng thành không gian ẩm thực, quá dễ hiểu. Người sống bằng thương hồ thường tụ ghe lại với nhau, những chợ nổi trên sống ngoài bán trái cây, tôm cá… không thể thiếu những chiếc ghe bè nhưng chiếc lá tre lênh đênh hủ tiếu, bún, cà phê, bánh trái vốn có sức thu hút bạn hàng phụ nữ khá mạnh…Chợ búa Nam Bộ, đặc biệt ở nông thôn vốn là một “không gian ẩm thực” khá sinh động. Vào một chợ huyện, chợ tỉnh dễ thấy ngay cái nhà lồng dành nhiều diện tích của nó cho ăn uống, đi mua sắm gì thì rồi cũng ghé thăm nơi hấp dẫn có thể là nhất chợ này.
     Đấy là không gian ăn, còn món ăn Nam Bộ thì ai cũng biết là “tổng hòa những mối quan hệ nhiều loại thực vật” bên cạnh “át chủ bài” là cá, tôm, heo, gà vịt, chim, chuột, rắn, dơi…về miền Tây mà không biết đến thịt chuột, chim trời là một thiếu sót đáng…quay lại lần nữa ngay! Nam Bộ nóng quanh năm nên người ta có nhiều món canh dân dã. Canh cá linh mùa nước nổi hay cá lóc phải là canh chua để “chống nóng” mới hữu hiệu, thế là me, khế, chùm ruột, soài sống, khóm được quy tập vào phục vụ! Lâu lâu có canh ngọt là canh tập tàng với nhiều thứ rau, cây hoang, nhiều khi không cần biết tên! Nhiều rau kể cả rau hoang nên món ăn Nam Bộ thường có cả một “rổ rau” đủ loại chua, chát và đôi khi là rau rừng cho…bảnh và lừng!
      Thú vị nhất trong ẩm thực vùng sông nước phương Nam là…cuốn và nướng! Cá lóc nướng, rắn nướng hay chim nướng hoặc bằm xào xả ớt, lòng bò… cuốn với rau sống, một ít cá trắng lí nhí cũng…cuốn. Nhờ cuốn và nhờ thêm nước chấm cay chua mà trở nên hấp dẫn cho việc “đưa cay” vốn rất sính ở đây! Đó là cách ăn của người khẩn hoang, giờ hoang đã khẩn gần xong thì thành cá tính, thành cái “gu” có sức hấp dẫn mê hồn. Trong một bữa “lai rai” có thể phát triển thành “nhậu  nhẹt” của cư dân Nam Bộ thường có thêm dăm câu vọng cổ, một chút đờn ca thể hiện tính khoái hoạt không câu thúc. Và nhiều khi không thể thiếu…cãi lộn và quá tay thì đánh lộn!
      Ẩm thực là văn hóa mà văn hóa đâu cứ nhất thiết phải từ thành thị vọng về, trái lại cái văn hóa hồn nhiên của người và đất nó từ vùng quê vọng lên, len vào thành được thì len, bằng không cứ “đất lề quê thói” mà tồn tại! Riêng người viết bài này, tuy rất thấm nhuần văn hóa ẩm thực Nam bộ nhưng trời chẳng cho một duyên tình vùng sông nước nên cái tánh mê ăn cũng mất đi mấy phân hạnh ngộ!


Chủ Nhật, ngày 12 tháng 4 năm 2015

* CTC : Dấu chân sỏi cát






DẤU CHÂN SỎI CÁT
      *     
     Trưa ngày 30-4-1975 đang sống ở A cách B khoảng 45km là nơi đã ở không nhiều cảm xúc từ 1972 khi chạy khỏi mùa hè đỏ lửa ở C tan tác nhiều phần không còn tin sẽ có một nơi nào yên ổn, thời bình yên đã được rung chuông cảnh báo.
       Khoảng xế trưa, từ A phóng xe máy về B mục đích nổi là thăm cha mẹ vì biết khu gia đình ở có ác chiến, phần chìm sâu trong đáy lòng với không ít thổn thức là nhìn mặt B trong những giờ vừa đổi chủ. Có một chút yên tâm là B không tan nát dưới trận pháo nhưng có nhiều hơn thảng thốt nhìn thấy những khuôn mặt thất thần ngơ ngác của một số bạn bè từng một thời nuôi những giấc mộng riêng tư mà tương đồng.
      Qua khỏi cây cầu cong cong di sản thối tha của người Mỹ để lại khi bỏ của chạy lấy người, nhìn thấy một xác người gói cẩn thận trong lớp nylon lành lặn và rất mới, có ba lớp buộc từ trên xuống chứng tỏ người làm chuyện này có thì giờ thong thả dành cho người xấu số một chút săn sóc kiểu nghĩa tử nghĩa tận. Người gói trong bọc nhìn có vẻ dài hơn bình thường, anh ta là một người lính chết vào những giờ cuối cùng của trận chiến, chiếc nón sắt nằm không xa. Nơi anh ta nằm, trước đó vài giờ là một chốt chặn cắt ngang quốc lộ 4 bây giờ là 1A làm cho nó bị tắc nghẽn nhiều ngày. Không biết ai sẽ mang người lính chết ấy đi và đi đâu, nghe nói đơn vị anh ấy mới di tản từ miền Trung vào cách đó vài tuần khi miền Trung có chủ mới. Đã quá nhiều những cái chết ngoài đường, giờ thêm một cái nữa mà sao đi qua nghe lòng thật buồn bã. Dừng xe, xin người dân mấy nén hương, thắp và cắm dường như vào nách anh này. Không nhớ nói với anh lính ấy câu gì, chắc là một lời cầu nguyện không tin là sẽ thiêng liêng!
      Tới Trường đua thấy hai người cảnh sát áo trắng nằm chết giữa đường trong khi những chiếc xe máy lách qua vẫn còn hớt hải chưa tan dù phút ấy cuộc cờ đã tàn quá rõ cho ai nấy đều thấy.Thành phố không còn như trái bóng căng những ngày hôm trước, thậm chí vài giờ trước. Trái bóng giờ đã vỡ bung thành nhiều mảnh xác xơ một tan hoang chưa định hình được. Vòng xuống một ngã tư, ngược lên một cái chợ, vào con hẻm nhỏ vừa trở nên cực kỳ xa lạ. Gia đình bình an cả, hai người em đi lính ở các tỉnh cũng đã kịp thoát về trong bộ đồ trông như thợ hồ. Ngỡ ngàng cố giấu câu hỏi phải nói gì, làm gì trong những ngày tới. Cả nhà nói những thứ vu vơ dường như ai cũng tránh nói về cái đang diễn ra, không ai nghĩ tới những ngày sắp tới.
      Ba người lính thắng trận đeo súng AK dừng trước cửa nhà, họ còn rất trẻ, da tai tái và hiền từ, ngây thơ là khác. Nín lặng chờ đợi, thì ra là “Cho chúng cháu uống nước”. Nghe tiếng “cháu” quá xa lạ, chúng ta chưa có thời gian thu xếp một kiểu xưng hô theo vai vế, giờ còn đang nghe ngóng quyền lực từ mũi AK sẽ xử như thế nào trong những ngày tới. Không phải một tiếng nổ ngắn gọn, tất nhiên không bao giờ có chuyện như thế, mà là cả những năm tháng còn ở phía trước .
     Đây là lần thứ ba chứng kiến người thắng trận từ ruộng đồng, rừng núi vào thành phố. Lần thứ nhất vào đầu tháng 7-1954. Sáng sớm hôm ấy thành phố D rộ lên nhiều tiếng súng, mới 14 tuổi nhưng biết đó không phải là súng giao tranh, trẻ con thời chiến thường trưởng thành sớm. Thì thế, lính Pháp và chính quyền thành phố tháo chạy và người lính nào đó bắn chơi như để chào một nơi không bao giờ còn trở lại nữa, tiếng nổ của anh ta nghe có vẻ tức tối. Quá trưa, lính Việt Minh vào, họ tỏa ra những con phố, khuôn mặt lạnh lùng cảnh giác. Sau đó không lâu những khuôn mặt ấy dãn ra tươi tỉnh khi thành phố có nhiều biểu hiện đón họ.
      Lần thứ hai chứng kiến cảnh tương tự này là vào ngày 10-10-1954  đường phố E rực màu cờ, phố xá đông đúc nhưng ẩn chứa một cái gì đó lao nhao giữa đi và ở, sắc diện bình an hơn nhưng cũng không khác D trước đó 3 tháng. Trong dòng người đang có vẻ vỡ ra thành từng mảng ấy của E, đứa bé 14  mất liên lạc với gia đình không biết ngày mai sẽ ra sao, còn quá nhỏ để tìm câu trả lời vào khi ấy. Nhưng tâm trạng phải tự xoay xở với nhiều bất ổn thì có! Ngày bước lên thang một con tàu quá sức lớn, anh lính người nước ngoài hỏi đi với ai, đáp một mình. Và anh ấy hét cho một anh lính khác ghi “Trẻ mồ côi”!
       Ba lần chứng kiến sự đổi thay của thành phố trong vừa tròn 20 năm của đời mình,  những tên đất, để khỏi bận tâm đã mã hóa chúng thành A, B, C, D trong lộ trình kiếm sống nhạt thếch cảm xúc. Dấu chân khi tung tăng khi chênh chao trên những đoạn đường mã hóa đã bị thời gian làm cho thành hư vô như sóng vẫn làm trên bờ cát. Tuy nhiên, vẫn giữ lấy quyền sở hữu về chúng dù chẳng biết để làm gì! Bốn mươi năm qua như một cơn gió thổi vào cái thùng không đáy, mọi thứ quen dần, ngoài đường có một lớp cây đã to cao như trong nhà con rồi cháu chiếm lấy diễn đàn đẩy người đàn ông sang một bên chiều chiều ngóng ra cổng chờ lũ nhóc đi học về cùng với tiếng cười dòn tan không hay biết những thành phố mã hóa A-B-C-D và những dấu chân sỏi cát từng in trên đó…

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 3 năm 2015

* Đêm thơ VN tại Long An


    CTC
              CUỐN GÓI VỀ ĐỒNG

Đóng cửa phòng anh về dưới ruộng
Ếch nhái khôn chẳng bắt được con nào
Cá dưới nước câu hoài không được
Chim chóc nhiều ở tuốt trên cao

Đầy đồng lúa đang thì con gái
Ai đang tay bứt lấy bao giờ
Có người nào cất tiếng ầu ơ
Anh bỗng thích mình thành đứa bé

Con bò con say sưa bú con bò mẹ
Chốn quê mùa tình mẫu tử thiêng liêng
Tiếng bò mẹ gọi con sao ấm thế
Nghe nhẹ lòng trong buổi tàn đông

Về ruộng đi hỏi thăm thôn nữ
Coi mùa màng xanh tốt bao nhiêu
Vậy mà sao chẳng gặp người nào
Chỉ thấy ruộng toàn là những đất!

Vẫn lang thang trên phố trên thành
Kẻ lưu vong khỏi quê nhà yêu dấu
Nước non chi cũng nước non người
Nhìn tường gạch nhớ bụi tre kẽo kẹt

Đi cùng trời quên sao được quê nhà
Bởi mất gốc mới ra cớ sự
Cuốn gói về làm rơm làm rạ
Chiều cuối năm thơm sợi khói đốt đồng
12-2014


CÕI ĐỜI RƠM RẠ nảy ra một chuyện tình chia 3 phân khúc Kim-Kiều/ Thúc-Kiều và Từ-Kiều. Chớ nên nói phân khúc nào là chính thống bởi nhánh nào trái tim Kiều cũng rung lên bần bật. Mỗi nhánh là một phần làm nên đời cô ấy.
Truyện hay như thế lại là một bài thơ dài cần thật nhiều cảm hứng và năng lực thi ca, vậy mà Nguyễn Du lại viết “Lời quê góp nhặt dông dài” là nhà thơ tiền bối có đức khiêm tốn rất ư đáng phục. Nhiều người cầm bút hôm nay kiêu căng cong cớn "đẽo" thơ văn như đẽo cái cày ngoài đồng tức là thành một công cụ đem cái tao nhã mà nhúng xuống bùn. Nơi những bàn cà phê tức là chỗ “đẽo”, “tạc” thơ luôn có tiếng nổ bôm bốp và tan như xác pháo!
Nguyễn Du lại còn viết một câu thật kiêu hãnh tàu cánh ngầm rằng “Mua vui cũng được một vài trống canh”. Mấy trăm năm rồi và tất nhiên còn dài hơn nhiều nữa, hóa ra mỗi “trống canh” của thơ Nguyễn Du dài đến bất tận ! Cái khiêm tốn và cái kiêu hãnh của một thi ca lớn cũng có cách bộc lộ riêng.
Chả có ai được dù chỉ một tí cái "trống canh" đó đâu , đừng có huyễn tưởng làm công việc cơi nới lố bịch ấy làm gì!
(Nhân ngày gọi là Ngày thơ VN

Thứ Hai, ngày 23 tháng 2 năm 2015

* Thơ CTC : Cảm xúc trên đường phố Huế










CTC
CẢM XÚC TRÊN ĐƯỜNG PHỐ HUẾ

Không ở đâu thấy hò bằng mắt
mà giọng hò ngọt sắc như dao
chiều giăng mưa bủa lưới trên cầu
thương con sếu ngại rét đông cúm rúm

Thương cả hai người, em với bóng
chiều vàng nghiêng nón lá qua sông
để giọng hò em mát mái xuôi dòng
người ta đã xây bến đò Thừa Phủ

Đêm vườn ai đóa quỳnh nở sớm
thương kẻ si tình em cũng lớn theo hoa
trên vài cầu ai đợi ai qua
mà dưới chân cầu chỉ toàn là nước

Dậy rất sớm trái tim nồng thao thức
đêm không dài nghe bước chân qua
tiếng kinh ai tụng sớm trên chùa
tưởng giọng hò ngân ra thành sợi

Cảm xúc vỡ òa dưới mái cong Đại Nội
đêm về chấp chới tiếng dơi bay
nghe cơn mưa không rơi xuống tự trời
nghe trái tim sinh đôi trong lồng ngực

Của bầy chim bỏ xứ đi xa
gửi lại Huế nỗi sầu đá dựng
thương con sông dịu dàng ra biển
con sông không chịu mặn bao giờ

Huế của những ngày mưa mọc lên từ đất
có ai buồn bỏ Huế ra đi
nghe dòng sông thở giữa đêm hè
nghe đá nổi rùa kêu trong từng khúc ruột


Thứ Hai, ngày 16 tháng 2 năm 2015

Thơ CTC : Thượng kinh hành



CTC 
THƯỢNG KINH HÀNH



Ôm chiếc nóp thượng kinh thăm kẻ chợ
nơi phố nhà day mặt ngó nhau trân
như chàng rể ngó trân bàn thờ nhà vợ
Ta chôn chân trên lòng đường xớ rớ
giữa kinh thành đầy ních những phu nhân
mà đất trời cũng nổi cơn ghen
họ vẫn đẹp như hồi ta biệt tích
con chim hờn chim bay đôi cánh xếp
con cá si tình con cá lật trên sông
tiếng phu nhân như tiếng nước về đồng
để lại ruộng màu phù sa ấm áp

Lòng ta đấy khi không thành Đức Phật
thành Chúa Trời trong buổi khai thiên
hoa cỏ sơ sinh trên nền đá bạc
mà vải sồ chưa phủ hết thiên nhiên
vải sồ ơi, đừng phủ thiên nhiên
quý phu nhân đâu muốn thành ẩn sĩ
Kiến ngãi bất vi vô dõng giả
vả cuộc trần đâu thiếu chỗ dung thân
lòng ta đấy tu đã tròn nửa kiếp
nửa dòng trong dòng đục xin dâng

Nhà cửa thị thành không có tên riêng
họ gọi nhau bằng vài con số
dân kẻ chợ thích xây nhiều chợ
chợ bán trời, bán chim, bán chó
bán thành hiền văn chương chữ nghĩa
có chợ bán người họ cũng bán ta luôn.

Nhớ ngày xưa có một phu nhân
mua ta về bởi vì ta tới số
nàng nhốt ra trong chiếc bồ đựng lúa
xa thị thành cho khỏi rong chơi
thói hư hèn thị dân dễ gây thành dịch
nước chảy huê trôi lúc nào chẳng biết
những hoàng hôn dẫu chẳng êm đềm
ta lấy thơ trải ổ lót phu nhân
đồ vô dụng chẳng thèm cho đọc !

Cuộc thế nhá nhem dễ đâu tìm hạnh phúc
dân thị thành chậm hiểu hơn ta
nhìn lại cố tri dăm mái đầu đã bạc
mặt già khằng không dễ nhận ra nhau
những dáng lom khom đang dò từng bước
trên đường đời trơn tuột gồ ghề
đời lăn đi trên những vòng xe
để lại đường những vết hằn nghiệt ngã

Gã khờ trân lai kinh thăm kẻ chợ
không khi nào rời chiếc nóp trên tay
rượu giang hồ đã cạn hết đêm nay
hắn bỏ đi rồi theo một cơn say
theo tiếng gọi của chiếc bồ đựng lúa
còn lại chiếc bầu không của riêng ai
tặng các phu nhân vô vàn khả kính !
SG 1980

Thứ Hai, ngày 26 tháng 1 năm 2015

* TẢN MẠN : Huyền thoại sóng











HUYỀN THOẠI SÓNG

LẠC LONG QUÂN Ở với nàng Âu Cơ sinh ra 100 người con, không thấy nói là trai bao nhiêu gái bao nhiêu có thể thời ấy chưa có khái niệm giới tính. Một hôm Lạc Long Quân bảo nàng là giống tiên ta giống rồng sống với nhau không được, nàng hãy đem 50 con lên núi ta mang số còn lại xuống biển, tuy người xa mà lòng không xa cách, khi buồn nàng cứ gọi ta sẽ đáp lời. Đó là cuộc chia ly huyền thoại và là cuộc chia ly không có nước mắt. Từ ấy không nghe tiếng Âu Cơ gọi.
Cũng từ ấy sóng cứ vỗ ầm ào là huyền thoại về nỗi thắc thỏm trong lòng đàn ông khi đàn bà im lặng.

Thứ Bảy, ngày 24 tháng 1 năm 2015

+Thơ CTC : Thư cho NA viết từ KBC 4100











CTC
THƯ CHO NA VIẾT TỪ KBC 4100


Trong giấc ngủ thật ngoan của mắt người yêu dấu
xin hãy vỗ về những tan hoang
vỗ về mà thôi
và đừng bao giờ hỏi
đừng bao giờ nghĩ lầm
những giọt lệ như là
máu hồng đổ từ thân thể ta
*
anh thèm khát lời nói yêu em
bằng cặp môi đã nhiều lầm lỡ
những buổi chiều anh nổi điên giận dữ
không biết vì sao thế
bởi chính mình cũng không hay điều đó
anh thèm hát một bài ca
không biết để làm gì
bởi chính mình cũng chẳng cần nghe nữa

em hiểu vì sao anh cần sống hôm nay
giữa khổ đau lăn tăn trên da thịt
những buồn phiền như đồ ăn tráng lòng
mà mỗi buổi sáng trong cơn ngái ngủ
anh nằm nghe đoàn tàu chạy qua
tạt vào mặt những tiếng còi rát buốt
*
anh vẫn sống trong veo như thủy tinh
vẫn soi gương ngày ba bốn lần
nhìn tóc râu chân tay mặt mũi
nhìn cả tiếng thở dài
đang vội vàng lẩn trốn
anh vẫn đong từng chút quê hương
trên bàn tay nhiều kẽ hở

anh thèm yêu hơn làm thơ
bởi làm thơ là chỉ nói cho mình nghe
những khát thèm bất lực
và giữa đám đông vô tình kia
em nâng niu anh như món hàng dễ vỡ
rơi vào trái tim anh
những cô đơn của kẻ làm thơ
tựa vào chính mình mà sống
*
làm cách nào em thấy trong thơ anh
thứ ngôn ngữ đánh lừa và bất lực
em là một người một người nào khác
mang tuổi đến cho anh
quên mang niềm hy vọng
anh dốc ngược đời mình
trên bờ môi em đó.
KBC 4100 tháng 12-1966