Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

* Nguyễn Thị Liên Tâm : Ngựa hồng, một đời rong ruổi


 NGỰA HỒNG, MỘT ĐỜI RONG RUỔI
    
* Nguyễn Thị Liên Tâm
   
       Một đời yêu thương, khắc khoải…nhưng chừng như cô đơn cùng cực. …Một đời nhớ nhớ, mong mong, nhạy cảm với những điều bắt gặp trong đời… và nghe nỗi buồn cứ như thường trực trong lòng. Một đời giang hồ phiêu bạt cùng  bạn bè tâm giao khắp chốn, khắp nơi. Một đời lấy thơ văn làm lẽ sống trong cõi làm người…
    Hình ảnh ngoài đời, trong thơ, sao cứ nhẹ cái chất lãng du, mà nặng cái chất cô độc, suy tưởng, khiến người mới quen biết anh - nhà thơ Cao Thoại Châu - không bao lâu, như tôi, đã có thể phác thảo vài nét về anh:
                 Ngựa hồng đã mỏi vó chưa?
                Mà nghe lóc cóc sớm trưa… đường trần.
    Thi sĩ họ Cao tuổi con mèo (Kỷ mẹo 1939), đến nay đã rong ruổi hơn 70 năm trong cõi thế gian. Anh thích làm thơ, viết văn, viết phê bình, và đã thực hiện những điều ấy như một thú tiêu dao có nghề.….Chỉ tính riêng thơ, tới nay, gần 50 năm gắn bó với văn chương, anh đã cho in được 4 tập (Bản thảo một đời, NXB Long An 1992, Rạng đông một ngày vô định NXB Văn Nghệ TP HCM 2007, Ngựa hồng - NXB Thanh Niên 2009 , Mời em uống rượu - NXB Hội Nhà Văn). Mỗi tập có một dấu ấn riêng cho từng giai đoạn của một đời người (ngoại trừ những bài anh yêu thích và in lại trong nhiều tập…như Để nhớ lúc Trâm xa).
     Thời tuổi trẻ, thơ với anh, là “Bản thảo một đời” (tên tập thơ đầu tay). Một đời thi ca. Một đời gió bụi. Phải chăng là thế, nên, suốt một đời anh cứ chỉnh sửa mãi không thôi. Để rồi, từ thầy giáo đến người cầm súng tham gia vào cuộc chiến,  thi sĩ xứ Tân An gốc Nam Định cứ phải đau đáu với những đêm buồn vô hạn, với những cuộc tình chia xa, với những dòng sông bên bồi bên lở, với những phút trầm tư khi rong chơi trên yên “Ngựa hồng”, với những rung động ban sơ “Rạng đông một ngày vô định”, và lúc tâm quay cuồng “Mời em uống rượu” cùng anh.
      Cao Thoại Châu đến với thơ như duyên phận trời định. Cái duyên thơ không phải ai cũng được trời thương mà ban tặng. Nên anh đã chắt chiu từng chi tiết trong cuộc sống bộn bề, rồi sau đó, lao tâm khổ tứ chọn lọc ngôn từ để thay mình lên tiếng nói yêu thương. Bởi trót đa mang với những phận người, phận mình, phận đời… hay bởi cái tâm cái tình của anh quá rộng rãi, mênh mang? Câu hỏi ấy sẽ có lời đáp khi ta đọc những tác phẩm thơ ca của anh.  Đa phần, đó là những bài thơ giàu cảm xúc, giàu hình tượng, nhạc reo trong thơ…được đông đảo người yêu thơ đón nhận khi xuất hiện trên Nghệ Thuật, Văn, Khởi Hành…vào  những thập kỉ 60. 70 thế kỉ XX.
     Đọc qua bốn tập thơ hay, sẽ thấy nhiều điều cần nói. Đó là: giọng thơ anh có điệu riêng “u uẩn”. Cứ đọc và sẽ cảm. Thơ anh đi vào tim người “nhẹ như không”. Chính là vì cái cách chọn và sử dụng ngôn từ diễn tả nhẹ như không ấy của anh. Nhưng khi thơ Cao Thoại Châu đã nhẹ nhàng đi vào tim người đọc, thì lúc ấy, ý và tứ thơ bật lên sức mạnh ghê gớm làm xao động lòng người… Điệu thơ buồn, điệu thơ kiêu hùng lang bạt, ngôn ngữ sáng tạo khi diễn tả ý thơ mới lạ…  lại làm cho người ta yêu, người ta say, người ta nhớ, người ta ngất ngưởng đắm chìm. Ít ra thì nhiều bài thơ của Cao Thoại Châu đã đạt được điều đó.
       Ngay từ buổi đầu nhập cuộc với văn chương, Cao Thoại Châu đã tạo cho mình một phong cách riêng. Thử hỏi, có nhà thơ nào viết về nỗi buồn thân phận nhiều như Cao Thoại Châu? Có nhà thơ nào gửi vào văn chương nhiều hình ảnh về Ngựa đến thế, như Cao Thoại Châu?
     Con ngựa hồng ngày nọ đã từng tung vó mù trời. Nhưng thời gian ra đi là ra đi mãi mãi. Xa rồi một vòng tay ngày thơ trẻ. Và trải qua bao tháng ngày lận đận, có lúc ngựa hồng cũng phải mỏi gối, chồn chân…
- Lại thức sớm theo người đi lễ sớm/ Ngọn đèn nhà Chúa thật cô đơn/ Nhớ da diết… tiếng xe thổ mộ/ Đêm đã buồn lóc cóc lại buồn hơn (Đêm ngủ bụi ở nhà thờ Đức Bà- Trích tập RĐMNVĐ)
- Thảng thốt nghe tiếng ghềnh thác đổ/ Chắt cơn buồn trên lưng ngựa hoang (Ngựa hồng- Trích RĐMNVĐ)
- Đời buồn tênh sao người không đi ngựa/Cho tôi nghe lóc cóc trên đường? ( Để nhớ lúc Trâm xa- BTMĐ)
- Vừa chấm bài vừa hát lý ngựa ô/ Giọng phu nhân khác gì ca sĩ / Hai mươi năm nàng lìa xa đất Huế/ Bắt ta làm con ngựa lý trăm năm… (Lý ngựa ô- BTMĐ)
- Trăng thiếu phụ muôn đời trăng khuyết/ Ngựa chàng về còn chiếc yên không. (Đọc lại thơ Đường- BTMĐ).
     Thế đó, yên ngựa buồn tênh, đời người buồn tênh… khi chứng kiến những cuộc chia ly: với quê hương chôn nhau cắt rốn, với nơi trú ngụ dài lâu, với bạn, với người yêu, với con, với vợ, với một địa danh đã ghé thăm, với con thuyền, bến sông, với những con đường, với buổi sáng mơ, với đêm trăng mơ mộng, với những nhà thơ nổi tiếng của đất nước.
     Đọc thơ anh, không thể không buồn, vì nhiều bài rất buồn, buồn lắm. Đọc rồi ngấm vào lòng, vận vào lòng. Rồi vẩn vơ thương nhớ dùm cho nhân vật trong thơ- nhân vật ngoài đời- nhân vật tác giả… Suốt một phần đời lơ ngơ trong thời cuộc đảo điên nên anh cứ buồn như một định mệnh. Buồn sáng, buồn trưa, buồn chiều, buồn tối…
* Sáng
Tôi xa người vào lúc sớm mai/ Người phu quét đường đang đốt lá cây /Vài ngọn khói bay lên mệt lả/ Buồn buồn như ngọn gió heo may
* Chiều
Nhìn hoàng hôn bỗng thèm nỗi chết/ Của một ngày vừa mới đi qua/ Bây giờ tôi buồn và sống/ Như khói thuốc yếu dần/ Không còn gì hy vọng/ Không còn gì đớn đau…
* Đêm
Đêm đã xuống rồi phải không em/ Xin lấy ngón tay làm que diêm/ Biết đâu không thành ánh sáng/ Kìa tim anh cháy như ngọn nến…Đêm xuống rồi và che khuất/ Đồi núi run trong giá lạnh/ Dáng bơ vơ như một kẻ thất tình/ Xin bôi xóa đời anh/ Đêm ơi đêm ơi buồn muốn khóc…
     Sơ sinh vừa lọt lòng mẹ đã có nụ cười buồn, lớn lên lại cũng đa mang với cái sầu bi… Gắn bó với cái nghề dạy học, với trẻ hồn nhiên, thơ ngây trong sáng, anh cũng nhìn thấy cái buồn đeo bám, đi lính cũng buồn cho thân phận của con người trong cuộc chiến tranh.
·   Này là nỗi buồn thơ ấu:
- Đâm vào mặt chiếc nôi thời nhỏ dại/ Ta đã nằm và cười
Nụ cười ta sơ sinh đã buồn/ Thôi cũng đành thả trôi theo gió…
·   * Này là nỗi buồn của người cầm phấn:
- Tấm thân ta ôi thân ta rũ liệt./ Bài giảng khai trường/ Thích tự do ta bị đời khép vào khuôn mẫu/ sống theo thời khóa biểu đã chia cho…Thánh hiền mặt mũi cô đơn/ buồn không khác những người dạy học (trích Ánh lửa trong đêm)
- Rồi một đêm Thầy khoác áo ra đường/ Với nỗi sầu với phẫn nộ như điên…
     * Này là nỗi sầu của người cầm súng:
-Thung lũng hồn tôi nhiều khói quá/ Để mắt tôi buồn như tháng đông/Để em đứng ngẩn trong trời tối/ Nghe động dơi về đôi cánh nghiêng (1968)
     * Còn đây,  nỗi sầu của người phải chia xa:
-Tôi tiễn người để biết kẻ đi xa/ Đã mang theo hồn người ở lại/ Sao người không đi bằng sân ga/ Có ánh đèn cho mắt tôi vàng úa/ Đời buồn tênh sao người không đi ngựa/ Cho tôi nghe lóc cóc trên đường/ Sao người không đi bằng xe đò/ Có bụi khói ướt giùm đôi mắt (Để nhớ lúc Trâm xa)
     Thơ thế sự - chiếm phần lớn, là sự đồng cảm, chia sẻ nên đã nặng nỗi u buồn. Riêng mảng thơ tình Cao Thoại Châu, ý thơ, điệu thơ luôn mang mang mối sầu thiên cổ. Một nỗi đau buồn không thể gọi tên. Như bài thơ Để nhớ lúc Trâm xa  ra đời vào khoảng năm 1969 nơi núi rừng Pleiku mù sương có thể xem là bức tranh đẹp trong gia tài thơ tình của anh. Nhiều người thích, nhiều người mê, nhiều người ngâm ngợi…rồi buồn cùng với cuộc tình như vừa mới …chia xa; rồi buồn với tác giả. Bởi bài thơ đã diễn tả tận cùng nỗi buồn ly biệt, là em xa anh, là anh xa em, là ta xa nhau…là ta phải đưa tiễn nhau:
Sao người không đi bằng xe đò?...
… Sao người không đi bằng sân ga?...
Hình như tôi vừa tiễn một người
    Có điều gì mất đi trong tôi… (Để nhớ lúc Trâm xa)
     Những câu hỏi của cả một đời, của cả một thế hệ trẻ trai trong thời chinh chiến. Và rồi, những trách móc, những tủi hờn, những trăn trở đằm sâu vẫn cứ phải bật ra, dù rằng không thể nào đổi khác:
Tôi là núi sao người bỏ núi
Tôi là thuyền sao người không qua sông
Tôi là cầu sao người không qua thử
Cho tôi nhìn bóng nước rung rinh
Cho tôi nhìn tôi hốc hác điêu tàn
Cho tôi khóc và tôi nghe tiếng khóc…
(Để nhớ lúc Trâm xa)
Nỗi cô đơn vây kín anh, lây sang những bè bạn yêu thơ anh. Cô đơn, bất lực trước nhân tình thế thái, trước thời cuộc…là nỗi niềm chung của tha nhân. Nhưng anh lại là gien trội…Bởi anh từng sống trong thời chiến, nên nỗi buồn ấy theo đuổi anh đằng đẵng đến tận bây giờ, dù chiến tranh đã qua đi trên một phần ba thế kỷ.
Rồi một đêm thầy khoác áo ra đường
Với nỗi sầu với phẫn nộ như điên…
(Chỗ ngồi của nhà giáo thời chiến)
     Và nào có giận hờn chi đâu cuộc sống, nhưng với anh, đời sống buồn quá. Cảm giác sợ bị “bỏ rơi” xuất hiện trong anh từ lúc nào không rõ, nhưng cứ như thường trực trong anh:
                ta đâu có giận hờn chi cuộc sống
               dù thật tình buồn lắm phải không em?
                                                  (Mời em uống rượu)
     Những ám ảnh chiến tranh bám riết theo anh. Khi làm thầy dạy học, khi tham gia vào cuộc chiến phi nghĩa “nồi da xáo thịt”, khi trở lại làm thầy, khi ngao du khắp chốn để đến với bạn bè…Và ngay cả thời khắc hạnh phúc đón  nhận  “báu vật đầu đời”:
               Con sinh ra tám giờ đêm tỉnh lẻ
               Đời âm u cũng tựa như đèn
               Gió lên đầy hai dãy hành lang
               Cũng tối ám như lòng của bố…
                                           (Tặng vật đầu đời)
     Tôi đến với thơ thuộc lớp người sinh sau đẻ muộn so với anh. Nhưng so sánh để làm gì khi ta có thể phần nào cảm được cái tâm củ
a người thơ. Tố Như đã tự hỏi: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” (…Nguyễn Du), cũng chỉ là cách hỏi để tự mình trả lời đó sao?  
    Nói như Hoàng Trần: “Anh làm thơ “để nói cho mình nghe những khát thèm bất lực”. Anh bất lực trước nỗi đau đời mà thơ không thể chuyển tải rốt ráo dùm anh. Bởi thế nên anh  “nổi điên giận dữ”.
Anh cô đơn và anh thấy mình “vô dụng” giữa “tang thương”:
Tôi là chiếc xe bò đã cũ
Đường gập ghềnh tôi chở tôi đi
Đường gập ghềnh tôi chở tôi về
Trên một chiếc xe bò đã cũ.
(Cám ơn, và xin lỗi một người)
    Và những câu thơ chọn ra trên đây chỉ là minh chứng một góc thu nhỏ về gia tài thơ ca của hồn thơ khắc khoải Cao Thoại Châu mà thôi. Hãy đến với thơ anh, hãy đọc và cảm …như tôi, các bạn và những người yêu thơ anh, một hồn thơ đã khẳng định tên tuổi từ mấy mươi năm về trước…
    Bây giờ, những ngày vui cùng con cháu, bạn bè văn chương… không biết nhà thơ đã hết buồn chưa? Mà chắc chi đã hết buồn khi cái buồn đã vận vào mình, như kiếp Kiều lưu lạc, phải một đời sống trong nỗi cô đơn…Chỉ mong rằng, thi sĩ sẽ có những dòng thơ mang tâm trạng an vui hơn trong những ngày thanh nhàn trong cõi tạm này. Dẫu biết rằng, thường tình, nỗi cô đơn là sầu cố hữu…trong lòng các thi nhân...
                      Bên dòng Cà Ty những ngày tháng Mười- 2014                                                                                                                NTLT
                                                                                                                                          

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

* Thơ CTC : Cội nguồn tôi có tự hôm nay










Cao Thoại Châu
CỘI NGUỒN TÔI CÓ TỰ HÔM NAY


Có một ngày để gọi… hôm nay
Tôi không muốn mình là trang cổ tích
Ngày mẹ sinh trái tim phiêu bạt
Ngày em nhận ra tôi 
Vậy mà tôi quên mất
Tình yêu không cất trong tờ lịch
Thì mỏng dày không đếm bao nhiêu

Tôi là mây bay lạc trong chiều
Như kẻ tha hương đi tìm nguồn cội
Tôi sợ nếu vô tình em hỏi
Con suối ra sông từ ghềnh đá phương nào

Chẳng nơi nào thừa nhận tôi đâu
Ai chịu nhận hơi men ly rượu nhạt
Ai là áo ngự hàn ngăn gió bấc
Đương cự với mùa lạnh xé tâm can ?

Chiều tôi về
Một chút bình an
Đá viên sỏi 
Bằng gót giày hoang lạc
Đường tôi đi bỗng dưng rất sạch
Gió lau giùm nhổ những chông gai

Cội nguồn tôi có tự hôm nay
Vậy mà tôi lại quên đi mất!
13-10-2014



Chủ Nhật, ngày 12 tháng 10 năm 2014

Trương Nam Chi : Hai bài lục bát












Trương Nam Chi

1.    MÒN
Đường mòn
Mòn
Gót chân đi

Trời cao mòn cánh
Chim di theo bầy

Đường xa mòn sợi
Gió gầy

Nợ nần mòn mỏi
Chất
Đầy đời nhau

2.    DÂU BỂ
Nợ nần vắt
Kiệt đời nhau
Nên duyên tiền kiếp
Buông câu
Ú…
Òa !

Trước ta thành
Lũy chắn
…và
Sau ta biển động
Khó mà
Lội
Sang

CTC : Trương Nam Chi làm chi trong lục bát "Nỗi buồn pha lê" ?



TRƯƠNG NAM CHI 
LÀM CHI TRONG LỤC BÁT “NỖI BUỒN PHA LÊ”(*) ?

Cả ngàn năm tồn tại, thơ Lục Bát như một con thuyền, mang khái niệm tiếp nhận và lưu chuyển. Người bình dân xưa gửi vào con thuyền ấy một chút, chỉ mới một chút tâm tư nhỏ lẻ, bình dị như nông phẩm cũng nhỏ lẻ của họ “Qua đình ngả nón trong đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”. Chút tâm tình ấy chở bằng Lục Bát là hợp lý và đắc dụng! Nhưng gửi cả một cuộc đời với triết lý về sự xung đột của Tài / Mệnh vào Lục Bát thì phải kể đến Nguyễn Du, ấy là nói gửi một cách gọn gàng và lưu chuyển thành công. “Buồn trông cửa bể chiều hôm / Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa / Buồn trông ngọn nước mới sa / Mây trôi man mác biết là về đâu” thì không còn là “hàng” manh mún nữa, thành “hàng” có giá trị gia tăng rất cao rồi : Một thân phận người!
     Tôi nghĩ, sau cụ Nguyễn có một cuộc đổi mới con thuyền Lục Bát để nó không chỉ chuyên chở được “hàng nội” mà còn đắc dụng lưu chuyển cả “Cái Tôi” triết lý, nhân sinh, trái tim lãng mạn tiếp thu từ nền văn hóa mới phương Tây. Và người thành công là Huy Cận! Hồi những năm 60 ở Sài Gòn, tôi có viết về “Lục Bát Huy Cận” theo suy nghĩ này, khiến một số nhà thơ hơi khó chịu nhưng rồi thấy êm và có lẽ họ nhận quả đúng có một dòng lục bát mang tên như tôi viết! “Đi rồi, khuất ngựa sau non / Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu /  Trơ vơ buồn lọt quán chiều / Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người”“Tay anh em hãy tựa đầu / Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi” “ Nai cao gót lẫn trong mù / Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về”. Đó là những câu thơ Huy Cận tôi trích vào bài viết năm xưa ấy, có nhấn mạnh hai chữ “nẻo thuộc” và các nhà thơ khi ấy im trước “thương hiệu” Lục Bát Huy Cận!
     Từ ấy đến nay, Lục Bát luôn được làm mới. Thường là “chẻ” hai câu thành bốn câu, năm câu nhưng xem ra cũng vẫn rón rén trên “con thuyền ba lá” chứ chưa cho thấy một sự mạnh dạn nào đáng kể. Thật sự chưa có một nhà thơ nào làm lục bát theo kiểu này một cách kiên trì, chỉ lâu lâu đá vào một chút. Là sao ? Tuy không phải người bảo thủ nhưng có lúc đọc những câu lục bát “chẻ” này tôi nghĩ…thôi cứ nên 6 / 8, xuống hàng làm chi cho…tốn giấy! Vì nghĩ vậy nên tôi không trích đăng những câu ấy vì sẽ rất mất lòng mà chẳng lợi chi và lợi cho ai! Vả, thơ cũng là một cõi chơi, không ai có thể bắt người ta đi một lối hay không được đi một lối…
       Rồi một hôm mới đây thôi, tôi ngẫu nhiên có cuộc gặp “kép” với Trương Nam Chi, vừa gặp người lần đầu lại là lần gặp thơ của người, tập thơ “Nỗi Buồn Pha Lê” ghi mạnh bạo ngoài bìa là thơ Lục Bát. Vốn tin vào chữ nghĩa của các nhà thơ, tôi hiểu nhà thơ đang có quyết tâm, kiên trì thể hiện mình bằng cách làm công việc là…làm mới kiểu thơ này.
Trương Nam Chi làm chi trong tập lục bát của cô? Trước hết là “chẻ” câu nhưng không “chẻ” như nhiều người thành 2/4/4/4 mà tôi nói ở trên.
Nợ nần vắt
Kiệt đời nhau
Nên duyên tiền kiếp
Buông câu
Ú…
Òa!
     Thoát công thức 6/8 để tạo dựng một tiết tấu 3/3/4/2/1/1, có vẻ là phá hơi dữ và cái tiết tấu này không dùng cho mọi bài, ngay sang đoạn thơ khác của cùng bài, nó đã thành: “Trước ta thành/ Lũy chắn/… Và / Sau ta biển động/ Khó mà / Lội/  Sang” (3/2/1/4/2/1/1). Và cứ thế tiết tấu biến báo khôn lường, chỉ âm hưởng lục bát là còn lại! Cách “chẻ” chữ của Trương Nam Chi là vậy, và cô không phải chỉ có “chẻ” chữ, “chẻ” tiết tấu truyền thống, còn thứ khác nữa : Chẻ ý!
     Lục Bát truyền thống vốn hao hao như thế này “Cho em được nắm bàn tay / Đời người dễ có mấy ai hiểu mình”, và  “Vì đời lắm nỗi/ Bất minh / Nên tình trong sáng / Giúp mình vững tâm” đó cũng là thơ Trương Nam Chi- những suy nghĩ rất con gái và rất hiền lành. Nhưng Trương Nam Chi đột nhiên chuyển ý từ sự “vẩn vơ” như vậy sang một sự…tung tẩy “Mà/ Sao nước mắt/ Hình như…/Hình như máu đỏ/ Loang/ Từ trong tim”. Và như thế vẫn còn nhẹ nhàng cái duyên làm mình làm mẩy của người nữ, khác những câu này của tác giả “Thì / Em cứ việc / Cách tân/ Bao nhiêu đau đớn ? Cho lần / Rạch / Da/ Bao nhiêu lầm lỡ/ Xót xa / Hóa thành tiếng khóc / Oan gia lạc / Loài” .
       Điều tôi cảm nhận ở đây là những câu không cùng độ dài và được ngắt ý đột ngột kia lại là những mệnh đề, có khi là mệnh đề độc lập! Chẻ ý nhưng khéo léo lắm mới được như vậy!
Tôi nghĩ thơ Lục Bát là một dòng dài bất tận, lâu lâu lại nổi lên những “nhánh” độc đáo làm thành một "biểu đồ" : Dân gian – Nguyễn Du – Huy Cận và tiếp tục sau này. Ở nhánh thứ nhất, lục bát như con thuyền chở theo nông phẩm của nền văn minh lúa nước. Nhánh tiếp theo ai cũng hay là chở một triết lý về kiếp hồng nhan. Nhánh Huy Cận chở nặng cảm xúc, con tim của “cái Tôi” được giải phóng khao khát yêu và cũng bơ vơ…Nhánh hiện tại của nhiều người ra đời trong bối cảnh nền kinh tế hướng về thị trường, nhiều khi cuộc sống bị bê tông hóa từ chỗ ở đến cả tư duy, cảm xúc. Lục bát hiện đại phải chở cả một khối nặng nề…
     Người đọc thơ nào cũng có những tham vọng nhìn thấy những “thương hiệu” mới và tôi nhận ra một Trương Nam Chi trong số những nhà thơ đang đi tìm “thương hiệu” cho dòng lục bát của mình. Là người làm thơ cũng khá lâu nhưng tôi rất sợ lục bát, cả đời tôi có lẽ chỉ được cặp này “Tôi về sầu trắng đôi vai / Đi như quân tướng trong ngày bại vong” nên chi tôi rất chú ý đến tập thơ của người bạn mới gặp. Đổi mới thì nhiều, nhưng có căn cơ và quyết tâm thì hình Trương Nam Chi đang một mình một cõi. Rất mong cô thành công để cho tôi thỏa lòng mong ước, nhưng rồi sẽ ra sao thì tùy thuộc vào chỗ nhà thơ chỉ làm mới một chút cho vui hay là…Trương Nam Chi, nhà thơ lục bát, tại sao không ?
---------
(*) Nỗi Buồn Pha Lê, lục bát Trương Nam Chi
NXB Hội Nhà Văn. Văn Tuyển thực hiện 2014

Thứ Ba, ngày 07 tháng 10 năm 2014

Nguyễn Thị Đức : Vị Ngọt

Núi Con Voi










Nguyễn Thị Đức
VỊ NGỌT

1.
-Ba mày sao rồi? Sen hỏi.
      Tôi đáp:
-Vẫn nằm bệnh viện.
-Bệnh gì vậy?
-Bệnh cũ. Viêm phổi tắc nghẽn mãn tính.
-Tao biếu ba mày ít hoa quả vườn nhà. Đây là chuối tiêu trứng cuốc ba tao trồng. Hôm hai đứa con về, tao chặt dú cho tụi nó ăn. Chuối chưa kịp chín con đã đi rồi.
-Buồn ha. Đây đúng là chuối tiêu trứng cuốc! Khi chín ngoài vỏ có đốm nâu cứ như vỏ trứng cuốc. Vị ngon đặc biệt: deo dẻo, ngọt thanh và thơm lừng. Ăn một lần là nhớ đời. Cám ơn nghe.
-Còn đây là hồng, chính tay ba tao trồng. Hồi ba tao còn, đi đâu thấy cây trái gì lạ, ba tao cũng lấy hột đem về trồng, chăm bẵm từng chút. Bao nhiêu là cây được ba tao trồng kiểu như thế. Vườn nhà tao trở thành vườn tạp. Mít ướt. Mít ráo. Mít nghệ. Mít dừa. Mít tố nữ. Bơ. Xoài. Ổi. Sầu riêng. Mãng cầu. Lê ki ma. Nhãn. Chòi mòi. Trái châm. Dâu da. Lựu…Chẳng thiếu cây gì. Rồi hồng- loài quả của miền Bắc, miền Nam chỉ thấy trồng ở Đà Lạt. Mà tức cười lắm. Hồi đó hỏi đây là cây gì, ba tao nói: Cây táo! Cả nhà chả ai biết cây táo cây hồng ra sao nên ai cũng ậm ừ: táo! Bao nhiêu năm ba tao ra sức chăm bón mà nó cứ èo uột quặt quẹo như một cái cành khẳng khiu, ẻo lả không lên nổi. Lạ cái từ khi ba tao mất nó bỗng xanh tốt xum xuê và năm nay bắt đầu ra quả. Sai lắm. Đỏ cả cây. Ngày giỗ mấy cậu em trai về leo lên hái. Nhiều lắm. Chị Hai tao lớp sắp lên bàn thờ, lớp tíu tít mời bà con chòm xóm thưởng thức trái hồng ba tao trồng. Rốt cuộc phải xin từ mâm trái cây của ba tao để gửi vào Sài Gòn cho mấy đứa cháu và để lại một ít biếu ba mày đó.
Vừa nghe Sen giãi bày tôi vừa cầm chùm quả hồng lên ngắm. Những quả hồng trồng trên đất Pleiku không căng tròn với sắc đỏ bóng đẹp như hồng Đà Lạt. Trông giống quả cà chua, nhưng không mơn mởn bắt mắt như cà chua. Vậy mà lại ngọt thanh, lại không có hạt!
-Nghĩ thương ba tao. Ông trồng mà chẳng được ăn. Giờ trong vườn còn một loại cây gì lạ lắm, cả nhà tao chưa biết đó là cây gì. Hạt giống. Hạt giống. Vô số hạt giống ba tao thu nhặt về rồi trồng. Vườn nhà quanh năm xanh mướt, sạch trơn. Không một chút rác. Không một chiếc lá rụng. Ba tao đó! Giờ chị Hai tao giống tính ba tao như in.
-Ừ, chị Hai mày suốt ngày tay cuốc tay chổi loay hoay trong vườn. Trời ơi, vườn cây mà lúc nào cũng sạch bong, kể cả sáu tháng mưa rồi sáu tháng mùa khô gió thổi thông thốc. Một trận gió qua bao nhiêu lá rụng. Chị Hai quét khi nào mà ai vào cũng thấy không một chiếc lá. Phục lăn luôn
-Ừ, trong nhà chị Hai giống ba tao nhất. Lúc nào chị cũng quét dọn. Thấy chị cực, có lúc thương chị mà tao phát cáu.
-Tính chị vậy thì chịu chứ biết sao. Mà mày nhớ chăm cây hồng cho xanh tốt, hôm nào rỗi tao xuống ngắm. Nhớ trồng nhiều chuối tiêu. Chuối nhà mày ngon quá trời.
-Ừ, chuối ngon đặc biệt nên tao mới để dành cho hai đứa con. Tiếc cái là buồng chuối chín không kịp…Bao giờ  hai đứa nó mới về..
Bao giờ hai đứa nó mới về? Chuối, hồng, mít, sầu riêng, xoài, ổi, mãng cầu, chòi mòi, nấm mối, khoai lang, khoai từ, bắp, bột bình tinh …Những vị ngọt bùi thơm dẻo mát lành  của cây trái vườn nhà luôn mong ngóng những đứa con xa..

2.
Mùa thu. Chuối tiêu trứng cuốc. Hồng. Cốm. Những thức các bà mẹ xứ Bắc sống trên đất phương Nam năm nào cũng mua về cho con ăn. Để nhắc con, hay để thầm nhớ về một quê nhà xa lắc- quê nhà luôn ở trong tim nhưng quá khó để trở về!
Má tôi cũng thế. Từ ngày theo ba tôi vào Nam đến khi nằm xuống ở tuổi bát tuần, má tôi chưa một lần về quê. Sau 1975, kinh tế nhà sa sút, con cái nheo nhóc, mấy chị em tôi tạm dừng việc học, cùng ba má kiếm sống đắp đổi qua ngày.
Trong những ngày tháng gian khó đó, ba tôi viết thư về quê. Quê nhiều thay đổi. Lá thư mỏng phải đi nhiều nơi, phải mất bao công sức hỏi nhiều người. Mấy tháng sau mới có thư trả lời. Vậy là có quê nội, quê ngoại. Vậy là biết bà con. Nhưng chỉ trên thư, nhà chưa ai có điều kiện về.
Tôi dạy học ở xa. Thỉnh thoảng về nhà, hỏi má tôi sao không về quê thăm ông bà. Má tôi bảo:
-Quê mình, người ở xa về phải xênh xang “áo gấm về làng”, phải đóng góp như làm đường làng, tu bổ chùa chiền, đình miếu..Phải có quà mời cả làng uống nước, ăn bánh…Giờ má chỉ có các con, lo cho con ăn chưa xong lấy gì về thăm quê?
-Hoàn cảnh nhà mình cứ tụi con lo được vé xe là má về. Mấy chuyện kia phiên phiến thôi..
-Coi sao được con? Vả lại: “ Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng”. Quê nhà con gái lấy chồng là con người ta. Con thấy đấy, má có thờ cúng bên ngoại đâu..
Tôi chúa ghét chuyện này. Vẫn biết “đất lề quê thói” nhưng sao mà phân biệt lạ kì. Nhà tôi bao nhiêu đám giỗ bên nội, má tôi đều nhớ và giỗ quảy bài bản. Ba tôi giao tất cho má, không hề nhớ, không hề biết cúng kiến khấn vái. Còn bên ngoại tịnh không thấy má tôi cúng giỗ ai. Có phải vì thế mà ba tôi coi trọng con trai và đến giờ vẫn là con trai!
Má tôi cứ cả nghĩ. Và thời gian cứ trôi không đợi một ai. Năm 1984, bà ngoại tôi mất, má tôi vẫn tất bật mưu sinh không về được. Đêm đêm má tôi lặng lẽ khóc thầm. Tôi biết. Thương má, tôi lại nói má về quê. Lần này má tôi nói:
-Má thương bà ngoại, giờ bà mất rồi, về chẳng còn trông thấy bà…
-Còn ông ngoại mà má..
-Ông ngoại gả má cho ba mày, ông ngoại bắt má lấy ba nên má khổ cả một đời. Ông ngoại đánh bài hết cơ nghiệp. Ông ác lắm. má không về…
Má tôi thực sự có ghét ông ngoại không, tôi không thể nào biết được. Chỉ biết má tôi một mực không về . Và đến khi hết phần số, má tôi xuôi tay gửi nắm xương tàn cho mảnh đất Pleiku.
Má tôi đã mất. Ba tôi già yếu. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện về quê. Vậy mà cách đây vài tháng, tôi đã được đặt chân lên mảnh đất quê hương. Cả quê nội và quê ngoại. Chẳng bút mực nào tả xiết cảm xúc của tôi trong chuyến về quê ở tuổi 60.  Chỉ biết có về quê, mới biết ngày xưa ba  được sinh ra và học hành thế nào, Núi Con Voi, Núi Một nơi ba đóng quân là ở đâu, sao má lại biết nhiều vị thuốc gia truyền và biết nấu nhiều món ăn của người Tày, người Thổ; con đường nào má đã đi, cánh đồng nào má đã gặt,  đồng lương của ba ngày đó má tiêu dùng ra sao?...Các cô, các chú, các dì và bạn xưa của ba má ai còn ai mất…
Thời gian ở quê không nhiều. Nhưng những ngày ở quê đã khắc sâu trong tim tôi một điều sống nơi quê người trước sau gì cũng nên về quê, dù chỉ một lần. Để cảm nhận được vị ngọt quê hương. Để không phải đau đáu mãi với câu thơ: “Thứ quê hương như một người tình/ Thuở đầu đời nguôi quên không nổi”( Thơ Cao Thoại Châu )… 


Huế, đêm ra mắt tập thơ Hạ Nhiên Thảo











HUẾ, ĐÊM RA MẮT TẬP THƠ HẠ NHIÊN THẢO
      
      Gần nửa thế kỷ tôi mới có mặt ở Huế lần thứ 3. Lần đầu vào năm 1969 còn sặc mùi chiến tranh với những vết đạn, những vệt khói trên tường nhà đâu đó và phần tôi cũng vừa cởi áo lính được mấy tháng. Lần ấy tới Huế chấm thi, cảnh đẹp đâu chẳng thấy, chỉ thấy chiều chiều sau giờ chấm bài lò dò đi kiếm đồ ăn đặc trưng Huế. Chúng là một bộ sưu tập rất riêng, từ kiểu dáng nhỏ nhắn, tỉa tót tinh tế, ăn không cần no mà ăn để tự khẳng định mình. Và tôi đã tự khẳng định mình là kẻ ham ăn ngon và không đủ kiên nhẫn trước những thứ cái gì cũng một xí một xí đó.
       Lần ấy tới, tôi ở với mấy bạn sinh viên, giáo viên văn nghệ tại thư viện đại học. Một lần tôi là người rời phòng sau cùng và suýt nữa thì nước trôi luôn cái thư viện 2 tầng lầu! Là tắm trong bồn rồi cứ thế ra khỏi và áo quần ra đường, nước theo cầu thang xuống tận phòng dưới! Một anh nhà quê chính hiệu!
      Lần thứ 2 về Huế vào dịp mưa cuối năm 1970, cảm được hai câu của Nguyễn Bính “Trời mưa ở Huế sao buồn thế / Cứ kéo dài ra đến mấy ngày”. Là lần về chọn quê ngoại cho các con tôi sau này!
     Và bây giờ, lần 3 cách lần trước có 44 năm thôi! Trước hết, nói về ăn. Ngoài món bánh ướt Kim Long ra thì than ôi, cơm Âm phủ bây giờ là cơm của người… cõi dương! Bánh ướt Kim Long ăn bằng một anh Bắc mất gốc tháp lai Nam bộ nó mới đã làm sao! Vẫn kiểu Huế, nhưng mỗi cái bánh ăn chỉ hai miếng là sang cái khác, tổng kết chiến dịch là 7 cái dĩa! Tôi có cảm tưởng phong vị món ăn Huế bây giờ có phần khác ngày xưa? Và hình như với nhiều người Huế, cố đô trở thành cố hương để lâu lâu thăm lại quê nhà cho lãng mạn?
      Tôi với Nguyễn Liên Châu ở tại Nhà khách UB, bạn hiền Hạ Nhiên Thảo nấu ở nhà mang tới! Thật lạnh lùng, đồ ăn đủ cho mười người mà dồn cho hai Châu ăn tới ngày nào cho hết! Lại còn bánh kẹo tự làm, trái cây, dầu nóng, thuốc an thần và cả một con dao không biết để làm gì! Nhà thơ nữ Huế là người quá chu đáo, coi hai Châu như hai em bé!
      Huế khô ráo, nắng nhẹ, sông Hương chưa có sương mù “Sông Hương chưa thấy sương mù / Chắc là vướng bận mùa thu chưa về”. Bạn còn giao cho một chiếc xe tay ga, tôi lại giao cho Châu kia lái, thành ra có một chiếc “xe vua” làm TP nhỏ lại!
     Đêm ra mắt tập thơ của Hạ Nhiên Thảo tổ chức ở khán phòng của nhà sách, ấm cúng và có không khí văn nghệ. Châu kia lo, tác giả lo…những cái lo nhạy cảm của nghệ sĩ trước một “tình huống có vấn đề”. Nhưng đúng là bạn trẻ Nguyễn Liên Châu có óc tổ chức khá nhuần nhuyễn lại “lỳ đòn”, quan trọng hơn là bạn ấy biết tìm ra “nhân tố tích cực” cho giải pháp. Chuyện thủ tục đi qua như một chiếc xe qua đèo…
     Là người đọc bản thảo đầu tiên, tôi phải lên phát biểu. Chỉ khi đứng trước micro mới nhận ra mình trang phục tuềnh toàng quá trước cách ăn mặc của người Huế, nhưng biết làm sao, “Rằng quen mất nết đi rồi/”, chẳng có một cô Kiều cũng “quen thói” như tôi đó sao?
     Trong phát biểu, tôi “kể tội” tác giả. Rằng cô quá cầu toàn, một bài thơ sửa vài chữ, mail ra được cô ấy reo lên rối rít, nhưng hôm sau thì “giữ nguyên cho em”. Có lúc tôi đã giận vì tính tôi rất hay giận và giận dai nhưng lại nghĩ, người mới in thơ, cần được nắm lấy tay ai đó để đi cho nhanh, mình có tay lẽ nào khoanh lại! Cô bạn này, ngoài tính cầu toàn quá tỉ mỉ, hay thay đổi, còn rất nhõng nhẽo trong khi tôi quá thiếu kinh nghiệm chiều một sự nhõng nhẽo. May là cô nhõng nhẽo trong thơ!
    Phát biểu, “kể tội” xong, tôi khuyên cô cứ nên mang sự CẦU TOÀN – THAY ĐỔI – NHÕNG NHẼO vào trong thơ để làm nên một phong cách nữ tính của mình! “Giấu mình trong cuộc chia ly / Trên trang nhật ký không ghi tháng ngày”, những năm mới làm thơ, tôi không có được hai câu “lụa Hà Đông” như thế này đâu! Tôi gọi Hạ Nhiên Thảo là đồng nghiệp và tin bạn ấy sẽ đi xa với phong cách riêng của bạn ấy.
    Chuyện ra mắt tập thơ sẽ không làm cho tôi vui sướng trọn vẹn nếu trong chuyến đi này không gặp được “hai nhân tố tích cực” (đã nói ở tern) là Nguyên Quân và Lê Vĩnh Thái- hai người văn nghệ Huế. Hai bạn ấy đã trợ thủ rất vô tư và hiệu quả cho Châu kia đẩy tổ chức đêm thơ đi vào quỹ đạo, an toàn. Bao nhiêu tấm ảnh tôi có được trong lần tới Huế này đều do hai bạn ấy cầm máy. Muốn đi đâu chở cho đi…Thế là chuyến đi này tôi đã “tậu” được hai người bạn trẻ, “sắm” được tình bạn không dễ dàng chi trong “thị trường” sống hiện nay…Một cái tâm với đồng nghiệp mới làm thơ, tại sao lại không “tậu” nó chứ? “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng…”

Thứ Sáu, ngày 03 tháng 10 năm 2014

* Thơ CTC : Kính gửi các vị vua triều Nguyễn















Cao Thoại Châu
KÍNH GỬI CÁC VỊ VUA TRIỀU NGUYỄN

Tuổi ấu thơ học bài sử ký
Rưng rưng ngày thất thủ kinh thành
Vận nước nhà dồn lại ở hoàng cung
Thô bạo gót giày quân cướp nước

Mấy trăm năm độc lập
Giặc tràn vào giặc cướp mang đi
Thuở ấy tôi không hiểu được gì
Hình ảnh những người lính quăng gươm giáo
Lủi thủi về nhà đau tận trong xương
Cái đau mất nước
Truyền vào lòng đứa bé là tôi

Cũng không hình dung nổi
Cảnh vua bỏ thành bôn tẩu nơi xa
Và lá cờ quân thù hạ xuống
Tuổi bé con đâu có hiểu gì
Ngoài lời giảng của Thầy
Cờ hạ xuống là một lần mất nước!

Hôm nay vào Nội Thành
Tóc trên đầu đã bạc
Bất chợt mắt tôi ươn ướt
Và lòng nghe hơi giá hoàng cung
Còn phảng phất ngày kinh thành thất thủ

Đại Nội còn đây
Tôi không vào bằng bước chân du khách
Cũng không tìm ôn bài sử ký ngày xưa
Bởi vì đời tôi là một đời tao loạn…

Đứng nép mình bên cánh cổng
Tránh đường cho quá khứ đi qua
Thưa các vị mà lòng tôi tôn kính
Lịch sử có khi là một cơn lốc buồn
Cát bụi cay xè đôi mắt

Chiều mùa thu rơi xuống Nội Thành
Tôi hứng được một phần nắng đẹp!
Huế - Tân An, chin 2014



Thứ Sáu, ngày 19 tháng 9 năm 2014

* Thơ CTC: Có lẽ nào bài thơ anh chết đuối


Cao Thoại Châu
CÓ LẼ NÀO BÀI THƠ ANH CHẾT ĐUỐI


Bài tình đầu anh viết tháng Mười
Tháng của những cơn mưa xối xả
Mưa ngập đường ngập phố
Mỗi con đường thành một dòng kinh
Anh chỉ lo mưa trôi mất thơ mình
Vốn mỏng manh như chiếc lá

Bài tình đầu anh viết trong đêm
Khi loài người không còn trên trái đất
Đó là lúc anh cô đơn nhất
Cảm xúc ùa vào vây trái tim anh
Gây sóng gió một nỗi đời cô quạnh

Bài tình đầu chưa nói yêu em
Không nhớ đã viết gì về một điều có thể
Khi yêu dấu người ta không nhớ
Đã nói gì lúc trao trái tim nhau

Bây giờ sắp vào tháng mưa thảm khốc
Mưa tan tành có thể sập hồn anh
Thành phố đây có thể bị chìm
Lẽ nào thơ anh thành thơ chết đuối…
19-9-2014
  

Thứ Tư, ngày 17 tháng 9 năm 2014

* Thơ CTC : Chạnh lòng mùa thu

Cao Thoại Châu
CHẠNH LÒNG MÙA THU

Áo lại vàng khi mùa thu đến
Dẫu vàng chanh cốm nhẹ nhàng thôi
Để đường tôi leo dốc lên đồi
Không vướng phải một màu không đáng vướng

Tôi về lại thời nhiều hụt hẫng
Dăm chuyện buồn tự đến tự ra đi
Thời trái tim thật nhiều những sóng
Bọt nước tung trắng xóa bờ kè

Thời con tàu rửa sàn sáng bóng
Trên đài cao phần phật cờ đuôi nheo
Sửa soạn ra đi có thể chiều hay rất sớm
Tiếng còi êm thay thế câu chào

Tôi tìm lại thời nhiều mộng tưởng
Có thể đánh rơi trên đỉnh sương mù
Và có thể quên ở mùa nào đó
Nên vàng chanh cốm lúc sang thu ?
16-9-2014


Thứ Năm, ngày 11 tháng 9 năm 2014

* Thơ CTC : Hôm nay ta thử hết làm mình


Cao Thoại Châu
HÔM NAY TA THỬ HẾT LÀM MÌNH

Hôm nay ta không bận về mình
Buông thả hết những lo toan vặt vãnh
Những câu hỏi ăn gì buổi sáng
Thả cho bay tờ giấy gói bánh mì

Không vướng víu những điều không muốn bận
Cát dưới chân giày thắc mắc làm chi
Lên xe và ta thả ta đi
Khi thấy mỏi thả xe về, nằm xuống

Những lần ra đi những cuộc khởi hành
Xấp vé lên những con tàu vô định
Sa mạc hoang vu một thời nóng bỏng
Tuyết như bông rơi trắng đêm hè

Hôm nay rời nhà như một chuyến thăm quê
Tìm gặp lại mùi chùa mùi bến sông mùi chợ
Những thứ không làm phiền chi cả
Không làm đau người không thích đau thêm
11-9-2014